Tăng
Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển
Định nghĩa thuật ngữ
s, Pāli: saṅgha: tiếng gọi tắt của Tăng Già (僧伽) ý dịch là hòa (和), chúng (眾), hòa hợp chúng (和合眾), hòa hợp tăng (和合僧), Hải Chúng (海眾, nghĩa là chúng tăng hòa hợp như một vị nước biển); hay kết hợp cả Phạn ngữ và Hán ngữ lại mà có tên gọi là tăng lữ (僧侶). Ngoài ra, còn có cách gọi khác như tăng gia (僧家), tăng ngũ (僧伍), v.v. Tăng là một trong ba ngôi báu (Tam Bảo [三寶], gồm Phật, Pháp và Tăng), là người tín thọ giáo pháp của đức Như Lai, vâng theo Hành Trì đạo của Ngài để nhập vào hàng Thánh và Chứng Quả. Tăng còn là hàng ngũ Thánh Đệ Tử cắt tóc, Xuất Gia, theo Phật Học đạo, thọ giới Cụ Túc, có đủ Giới, Định, Tuệ, Giải Thoát và Giải Thoát Tri Kiến, trú vào Tứ Hướng, Tứ Quả. Từ này còn được dùng để chỉ cho đoàn Thể Tín thọ Phật Pháp, tu Hành Phật đạo. Sau khi thành đạo, đức Thế Tôn độ cho nhóm 5 Tỳ Kheo A Nhã Kiều Trần Như (Sanskrit: Ājñātakauṇḍinya, Pāli: Aññā-Koṇḍañña 阿若憍陳如), v.v., và đây được xem như là Tăng Đoàn đầu tiên của Phật Giáo. Luật Sư Đạo Tuyên (道宣, 596-667) nhà Đường cho rằng muốn cấu thành Tăng Già phải có 2 điều kiện: (1) Lý hòa, tức tuân thủ giáo nghĩa Phật Giáo, lấy việc giải thoát Niết Bàn (Sanskrit: nirvāṇa, Pāli: nibbāna 涅槃) làm mục đích tối thượng. (2) Sự hòa, có 6 loại, tức Lục Hòa, gồm Giới Hòa Đồng Tu (戒和同修), Kiến Hòa Đồng Giải (見和同解), Thân Hòa Đồng Trụ (身和同住), Lợi Hòa Đồng Quân (利和同均), Khẩu Hòa Vô Tránh (口和無諍), Ý Hòa Đồng Duyệt (意和同悅). Ngoài ra, Nguyên Lai Tăng là tên gọi thông thường của Tỳ Kheo (Sanskrit: bhikṣu, Pāli: bhikkhu 比丘), Tỳ Kheo Ni (Sanskrit: bhikṣuṇī, Pāli: bhikkhunī 比丘尼). Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam, v.v., gọi Tỳ Kheo là Tăng, Tỳ Kheo Ni là Ni. Sau này, ngoài hai chúng trên còn có Sa Di (Sanskrit: śrāmaṇera, Pāli: sāmaṇera 沙彌), Sa Di Ni (Sanskrit: śrāmaṇerikā, Pāli: sāmaṇerā sāmaṇerī, 沙彌尼) cũng được gọi là Tăng hay Ni. Tăng Già Tỳ Kheo và Tăng Già Tỳ Kheo Ni được gọi là hai bộ chúng. Hết thảy các Tỳ Kheo và Tỳ Kheo Ni trong bốn phương có tên gọi là Bốn Phương Tăng Già. Chư Tỳ Kheo và Tỳ Kheo Ni hiện hữu trước mặt được gọi là Hiện Tiền Tăng Già. Hiện Tiền Tăng Già tất phải có từ 4 người trở lên, tập trung, hòa hợp, mới có thể thực Hành Pháp Yết Ma (羯磨), Bỉnh Pháp (秉法), v.v. Nếu dưới số lượng ấy, được gọi là quần, nhóm. Hơn nữa, do vì hình thức Yết Ma không giống nhau, nên số lượng chúng Tỳ Kheo cũng bất đồng. Theo Tứ Phần Luật (四分律) quyển 44, phần Chiêm Ba Kiền Độ (瞻波揵度) có nêu Tăng 4 người, Tăng 5 người, Tăng 10 người, Tăng 20 người. Đối với Tăng 4 người, trừ Tự Tứ (Sanskrit: pravāraṇā, Pāli: pavāraṇā 自恣), thọ Đại Giới, xuất tội ra, có thể tác các pháp Yết Ma khác một cách Như Pháp. Trường hợp Tăng 5 người, trừ thọ Đại Giới, xuất tội ra, có thể tác các pháp Yết Ma khác một cách Như Pháp. Trường hợp Tăng 20 người thì có thể tác bất cứ pháp Yết Ma nào.