Tam Vô Sanh Nhẫn
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Ba thứ Vô sinh nhẫn do Tông Pháp tướng dựa theo 3 tính Biến kế sở chấp, Y tha khởi và Viên thành thực mà thành lập, đó là:
1. Bản tính vô sinh nhẫn(cũng gọi Bản Lai vô sinh nhẫn): Bồ Tát quán xét thể tính của Biến kế sở chấp đều là không.
2. Tự nhiên vô sinh nhẫn: Bồ Tát quán xét các pháp của Y tha đều do Nhân Duyên sinh.
3. Hoặc khổ vô sinh nhẫn (cũng gọi Phiền Não khổ cấu vô sinh nhẫn): Bồ Tát chứng biết thực tính của các pháp là Chân Như Pháp Tính, an trụ trong Vô Vi, không tương ứng với tất cả Tạp Nhiễm mà vốn tự vắng lặng.Theo luận Hiển dương Thánh Giáo thì Tam vô sinh nhẫn này ở địa vị Bất Thoái (tức Sơ địa trở lên), khi chứng Tam tính thì được Tam nhẫn này. [X. luận Du Già sư địa Q. 23.; luận Thành Duy Thức Q. 8., luận Hiển dương Thánh Giáo Q. 6.].
1. Bản tính vô sinh nhẫn(cũng gọi Bản Lai vô sinh nhẫn): Bồ Tát quán xét thể tính của Biến kế sở chấp đều là không.
2. Tự nhiên vô sinh nhẫn: Bồ Tát quán xét các pháp của Y tha đều do Nhân Duyên sinh.
3. Hoặc khổ vô sinh nhẫn (cũng gọi Phiền Não khổ cấu vô sinh nhẫn): Bồ Tát chứng biết thực tính của các pháp là Chân Như Pháp Tính, an trụ trong Vô Vi, không tương ứng với tất cả Tạp Nhiễm mà vốn tự vắng lặng.Theo luận Hiển dương Thánh Giáo thì Tam vô sinh nhẫn này ở địa vị Bất Thoái (tức Sơ địa trở lên), khi chứng Tam tính thì được Tam nhẫn này. [X. luận Du Già sư địa Q. 23.; luận Thành Duy Thức Q. 8., luận Hiển dương Thánh Giáo Q. 6.].