Tam Sơn Đăng Lai
Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển
Định nghĩa thuật ngữ
Sanzan Tōrai, 1614-1685: vị tăng của Lâm Tế Tông Trung Quốc, tự là Vi Độ (葦度), hiệu Tam Sơn (三山), xuất thân Điếm Giang (墊江), Trùng Khánh (重慶, Tỉnh Tứ Xuyên), họ là Tằng (曾). Đi thi cử không đỗ, ông chuyên tâm nghiên cứu Thiền Học, đọc say sưa bộ Cổ Âm Lục (古音錄) cũng như Bình Sơn Lục (平山錄) của Tụ Tuyết Xuy Phương Quảng Chơn (聚雪吹風廣眞) và muốn trở thành con cháu của Tụ Tuyết. Vào năm thứ 6 (1643) niên hiệu Sùng Trinh (崇禎), lúc 30 tuổi, ông theo Xuất Gia với Nam Triết Nhị (南浙二) ở Phí Nham Sơn (弔嵓山). Năm sau, ông đến trú tại Đông Minh Tự (東明寺) ở Trung Châu (忠州, Tỉnh Tứ Xuyên), rồi chuyển đến Thạch Phong (石峰), tham bái Khánh Trung Thiết Bích Huệ Cơ (慶忠鐵壁慧機), nhưng chẳng khế ngộ, nên ông quay về đất Thục. Đến năm thứ 5 (1648) niên hiệu Thuận Trị (順治), lúc 35 tuổi, ông trở về tham yết Huệ Cơ lần thứ hai. Vào năm thứ 11 (1654) cùng niên hiệu trên, ông viếng thăm Huệ Cơ ở Trung Nam Ngọc Ấn Sơn (忠南玉印山), kế thừa dòng pháp của vị này và đến trú tại Sùng Thánh Viện (崇聖院), Trung Châu. Sau đó, ông đã từng sống qua một số nơi khác như Hưng Long Viện (興龍院), Ngũ Vân Viện (五雲院) và Ngũ Vân Bổn Viện (五雲本院) ở Huyện Lương Sơn (梁山縣), Phủ Quỳ Châu (夔州府, Tỉnh Tứ Xuyên), Bàn Thạch Sơn Đàm Hoa Viện (磐石山曇華院) ở Huyện Vân Dương (雲陽縣), Phủ Quỳ Châu, Thiên Ninh Viện (天寧院) ở Phủ Gia Hưng (嘉興府, Tỉnh Triết Giang). Vào ngày 18 tháng 7 năm thứ 24 (1685) niên hiệu Khang Hy (康熙), ông Thị Tịch, hưởng thọ 72 tuổi đời và 43 Hạ Lạp. Tác phẩm của ông để lại có Tam Sơn Lai Thiền Sư Ngữ Lục (三山來禪師語錄) 16 quyển, Ngũ Gia Tông Chỉ Toản Yếu (五家宗旨纂要) 3 quyển, Cao Phong Tam Sơn Thiền Sư Sớ Ngữ (高峰三山禪師疏語) 3 quyển. Bên cạnh đó, ông có bản tự thuật về Hành Trạng và Tánh Thống (性統) soạn bản Niên Phổ.