Tâm Hương
Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển
Định nghĩa thuật ngữ
: chỉ cho hương thơm ngát trong tâm, hương lòng. Hành Giả Phật Giáo cần phải bày tỏ lòng chí thành chí kinh, vậy mới có thể Cảm Ứng lên chư Phật; việc dâng hương cúng Phật cũng giống như vậy, nên được gọi là Tâm Hương. Từ đó, có từ “nhất biện Tâm Hương (一瓣心香, một nén hương lòng).” Như trong bài Tướng Cung Tự Bi Minh (相宮寺碑銘) của Giản Văn Đế (簡文帝, tại vị 549-551) nhà Lương thời Nam Triều có câu: “Song thư ý nhụy, thất độ Tâm Hương (窗舒意蕊、室度心香, cửa bày ý nhụy, thất ngát hương lòng).” Trong Hám Sơn Lão Nhân Mộng Du Tập (憨山老人夢遊集, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 73, No. 1456) quyển 40, bài Ngũ Đài Sơn Tạo Trầm Hương Văn Thù Bồ Tát Tượng Sớ (五臺山造沉香文殊菩薩像疏), có đoạn: “Xả Tâm Hương nhất thốn nhi giá trọng tam thiên, nghiêm Pháp Thân Nhất Mao nhi phước diên vạn kiếp (捨心香一寸而價重三千、嚴法身一毛而福延萬劫, bỏ hương lòng một tấc mà giá nặng ba ngàn, nghiêm Pháp Thân mảy lông mà phước dài muôn kiếp).” Hay trong Pháp Giới Thánh Phàm Thủy Lục Đại Trai Phổ Lợi Đạo Tràng Tánh Tướng Thông Luận (法界聖凡水陸大齋普利道塲性相通論, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 74, No. 1498) quyển 4 cũng có đoạn: “Sơ trừng tánh thủy, sạ nhiệt Tâm Hương, nhiên Quang Minh trí tuệ chi đăng, phụng Thiền Duyệt Tô Đà chi vị, diệu hoa tề phóng, chơn quả thường viên, tu pháp cúng dĩ biểu thuần thành, vọng tôn thần chi thùy hâm hưởng (初澄性水、乍爇心香、然光明智慧之燈、奉禪悅酥酡之味、妙華齊放、眞果常圓、修法供以表肫誠、望尊神之垂歆饗, vừa trong nước tánh, mới ngút hương lòng, đốt tỏa sáng trí tuệ ngọn đèn, dâng Thiền Duyệt Tô Đà hương vị, hoa mầu cùng thả, Chánh Quả thường tròn, bày pháp cúng thể hiện Tâm Thành, ngưỡng tôn thần xót thương hưởng thọ).”