Tam Dư
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Cũng gọi Tam chủng dư. Dư là thừa ra, sót lại. Nghĩa là hàng Nhị Thừa Thanh Văn, Duyên Giác tuy đã vào Niết Bàn vô dư nhưng vẫn còn sót lại 3 thứ là Phiền Não, nghiệp và Quả Báo. Đó là:
1. Phiền Não dư(cũng gọi Chướng dư): Hàng Nhị Thừa tuy đã dứt trừ Phiền Não Chướng, vào Niết Bàn vô dư nguội thân bặt trí, nhưng vẫn chưa đoạn trừ Sở Tri Chướng, các Phiền Não nhỏ nhiệm vẫn chưa được diệt hết, đây chính là tàn dư của Phiền Não.
2. Nghiệp dư(cũng gọi Đạo dư): Hàng Nhị Thừa tuy đã dứt trừ tất cả nghiệp Hữu Lậu, nhưng vẫn còn chịu thân Biến Dịch và nghiệp vô lậu tàn dư.
3. Quả Báo dư(cũng gọi Quả dư, Báo dư, Khổ dư): Hàng Nhị Thừa tuy đã đoạn trừ Phiền Não Chướng, dứt hết nghiệp Hữu Lậu, xả bỏ thân phần đoạn mà vào Niết Bàn vô dư, nhưng vì chưa đoạn trừ Sở Tri Chướng, chưa diệt hết nghiệp vô lậu, chưa dứt bỏ thân Biến Dịch nên vẫn còn chịu Quả Báo của thân Biến Dịch tàn dư. [X. luận Phật Tính Q. 3.; Đại Thừa Khởi Tín Luận Nghĩa Kí Q.thượng; Ngũ Giáo chương thông lộ kí Q. 50.].
1. Phiền Não dư(cũng gọi Chướng dư): Hàng Nhị Thừa tuy đã dứt trừ Phiền Não Chướng, vào Niết Bàn vô dư nguội thân bặt trí, nhưng vẫn chưa đoạn trừ Sở Tri Chướng, các Phiền Não nhỏ nhiệm vẫn chưa được diệt hết, đây chính là tàn dư của Phiền Não.
2. Nghiệp dư(cũng gọi Đạo dư): Hàng Nhị Thừa tuy đã dứt trừ tất cả nghiệp Hữu Lậu, nhưng vẫn còn chịu thân Biến Dịch và nghiệp vô lậu tàn dư.
3. Quả Báo dư(cũng gọi Quả dư, Báo dư, Khổ dư): Hàng Nhị Thừa tuy đã đoạn trừ Phiền Não Chướng, dứt hết nghiệp Hữu Lậu, xả bỏ thân phần đoạn mà vào Niết Bàn vô dư, nhưng vì chưa đoạn trừ Sở Tri Chướng, chưa diệt hết nghiệp vô lậu, chưa dứt bỏ thân Biến Dịch nên vẫn còn chịu Quả Báo của thân Biến Dịch tàn dư. [X. luận Phật Tính Q. 3.; Đại Thừa Khởi Tín Luận Nghĩa Kí Q.thượng; Ngũ Giáo chương thông lộ kí Q. 50.].