Tam Đoạn
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
I. Tam Đoạn. Chỉ cho Kiến Sở Đoạn,Tu sở đoạn và Phi Sở Đoạn. Đoạn có nghĩa là cắt đứt tất cả sự trói buộc mà được giải thoát, tự do.
1. Kiến Sở Đoạn (Phạm: Darzanaheya), cũng gọi Kiến Đạo sở đoạn chi pháp, Kiến đoạn: Pháp được đoạn trừ ở giai vị Kiến Đạo.
2. Tu sở đoạn (Phạm: Bhàvanàheya), cũng gọi Tu đạo sở đoạn chi pháp, Tu đoạn: Pháp được đoạn trừ ở giai vị Tu đạo.3. Phi Sở Đoạn (Phạm:A-heya), cũng gọi Phi Sở Đoạn chi pháp, Phi đoạn: Tức chẳng phải pháp đoạn trừ ở giai vị Kiến Đạo, Tu đạo. Sự giải thích về Tam Đoạn giữa Đại Thừa và Tiểu Thừa có hơi khác nhau. Theo quan điểm của Tiểu Thừa, như luận Câu xá quyển 2 và luận Phẩm loại túc quyển 2, thì Kiến Sở Đoạn là hàng Thanh Văn quả đầu tiên dứt hoặc thấy lí, gọi là Kiến Đạo, vì các bậc này đã đoạn trừ 88 Tùy miên (Phiền Não)và các pháp cùng sinh ra với Tùy miên, nên gọi là Kiến Sở Đoạn. Tu sở đoạn là hàng Thanh Văn quả thứ 2 và quả thứ 3, tu chân Đoạn Hoặc, gọi là Tu đạo; vì các bậc này đã đoạn trừ 15 giới (10 Sắc Giới và 5 Thức Giới) và các phápHữu lậu khác(81 phẩm hoặc), cùng với các pháp do 81 phẩm hoặc sinh ra, cho nên gọi là Tu sở đoạn. Phi Sở Đoạn là hàng Thanh Văn quả thứ 4 đã dứt hết Phiền Não trong 3 cõi mà chứng được quả vô lậu, không còn hoặc để đoạn, nên gọi là Phi Sở Đoạn. Ngoài ra, 3 giới là Ý căn giới; Pháp Cảnh giới và Ý Thức Giới trong 18 giới là chung cho cả 3 đoạn, 15 giới còn lại chỉ thuộc Tu sở đoạn mà thôi. Về quan điểm của Đại Thừa, như luận Đại Thừa A Tì Đạt Ma tạp tập quyển 4, luận Du Già sư địa quyển 66..., thì cho rằng Kiến, Nghi, Kiến xứ, Nghi xứ... do Phân Biệt Khởi; tà hành, Phiền Não, tùy Phiền Não... do Kiến Sinh Khởi, các nghiệp thuộc thân, ngữ, ý, do Kiến... phát động, cho đến uẩn, xứ, giới... là Kiến Sở Đoạn. Tu sở đoạn là sau khi đã được Kiến Đạo, tiếp tục đoạn trừ tất cả các pháp Hữu Lậu, là Tu sở đoạn. Còn Phi Sở Đoạn chính là các pháp vô lậu. Cũng tức là dùng pháp Vô Vi của Thánh Đạo xuất thế mà chứng được Vô học vị, thân, ngữ, ý nghiệp đều thanh tịnh, là Phi Sở Đoạn. Ngoài ra, 7 tâm giới và 3 giới sắc, thanh, pháp trong 18 giới là chung cho cà 3 đoạn, 8 giới còn lại chỉ thuộc 2 Đoạn Kiến, Tu mà thôi. [X. luận Đại tì Bà Sa Q. 51., 52; luận Thuận chính lí Q. 6.; luận Thành Duy Thức Q. 5.; Câu xá luận quang kí Q. 2.].
II. Tam Đoạn. Căn cứ vào tính chất của các Pháp Bị đoạn trừ mà đoạn được chia làm 3 thứ là Tự tính đoạn, Bất Sinh Đoạn và Duyên Phược Đoạn. Tông Kính Lục quyển 76 giải thích như sau:1. Tự tính đoạn: Khi trí tuệ phát sinh thì tự tính của các Phiền Não Ám Chướng bị đoạn diệt.
2. Bất Sinh Đoạn: Khi đã chứng được Pháp Không ở Sơ địa thì khiến cho quả khổ của 3 đường ác không bao giờ sinh lại được nữa.3. Duyên Phược Đoạn: Đoạn trừ hoặc trong tâm, còn đối với các Trần Cảnh bên ngoài thì không khởi tâm tham, sân, tuy duyên theo cảnh nhưng không Nhiễm Trước, đó là Duyên Phược Đoạn. Trong 3 đoạn thì Tự tính đoạn và Bất Sinh Đoạn có năng lực đoạn trừ một cách Nhậm Vận tự nhiên, đó đều do Duyên Phược Đoạn làm cho Nhân Quả của 3 cõi Không Sinh lại nữa. Ngoài ra, Thành Duy Thức Luận Liễu Nghĩa Đăng quyển 5, phần cuối, ngoài Tam Đoạn còn thêm Tương ứng đoạn, gọi là Tứ đoạn. [X. luận Thành Duy Thức Q. 8.; Đại Minh Tam Tạng Pháp Số Q. 10.]. (xt. Tứ Đoạn).
1. Kiến Sở Đoạn (Phạm: Darzanaheya), cũng gọi Kiến Đạo sở đoạn chi pháp, Kiến đoạn: Pháp được đoạn trừ ở giai vị Kiến Đạo.
2. Tu sở đoạn (Phạm: Bhàvanàheya), cũng gọi Tu đạo sở đoạn chi pháp, Tu đoạn: Pháp được đoạn trừ ở giai vị Tu đạo.3. Phi Sở Đoạn (Phạm:A-heya), cũng gọi Phi Sở Đoạn chi pháp, Phi đoạn: Tức chẳng phải pháp đoạn trừ ở giai vị Kiến Đạo, Tu đạo. Sự giải thích về Tam Đoạn giữa Đại Thừa và Tiểu Thừa có hơi khác nhau. Theo quan điểm của Tiểu Thừa, như luận Câu xá quyển 2 và luận Phẩm loại túc quyển 2, thì Kiến Sở Đoạn là hàng Thanh Văn quả đầu tiên dứt hoặc thấy lí, gọi là Kiến Đạo, vì các bậc này đã đoạn trừ 88 Tùy miên (Phiền Não)và các pháp cùng sinh ra với Tùy miên, nên gọi là Kiến Sở Đoạn. Tu sở đoạn là hàng Thanh Văn quả thứ 2 và quả thứ 3, tu chân Đoạn Hoặc, gọi là Tu đạo; vì các bậc này đã đoạn trừ 15 giới (10 Sắc Giới và 5 Thức Giới) và các phápHữu lậu khác(81 phẩm hoặc), cùng với các pháp do 81 phẩm hoặc sinh ra, cho nên gọi là Tu sở đoạn. Phi Sở Đoạn là hàng Thanh Văn quả thứ 4 đã dứt hết Phiền Não trong 3 cõi mà chứng được quả vô lậu, không còn hoặc để đoạn, nên gọi là Phi Sở Đoạn. Ngoài ra, 3 giới là Ý căn giới; Pháp Cảnh giới và Ý Thức Giới trong 18 giới là chung cho cả 3 đoạn, 15 giới còn lại chỉ thuộc Tu sở đoạn mà thôi. Về quan điểm của Đại Thừa, như luận Đại Thừa A Tì Đạt Ma tạp tập quyển 4, luận Du Già sư địa quyển 66..., thì cho rằng Kiến, Nghi, Kiến xứ, Nghi xứ... do Phân Biệt Khởi; tà hành, Phiền Não, tùy Phiền Não... do Kiến Sinh Khởi, các nghiệp thuộc thân, ngữ, ý, do Kiến... phát động, cho đến uẩn, xứ, giới... là Kiến Sở Đoạn. Tu sở đoạn là sau khi đã được Kiến Đạo, tiếp tục đoạn trừ tất cả các pháp Hữu Lậu, là Tu sở đoạn. Còn Phi Sở Đoạn chính là các pháp vô lậu. Cũng tức là dùng pháp Vô Vi của Thánh Đạo xuất thế mà chứng được Vô học vị, thân, ngữ, ý nghiệp đều thanh tịnh, là Phi Sở Đoạn. Ngoài ra, 7 tâm giới và 3 giới sắc, thanh, pháp trong 18 giới là chung cho cà 3 đoạn, 8 giới còn lại chỉ thuộc 2 Đoạn Kiến, Tu mà thôi. [X. luận Đại tì Bà Sa Q. 51., 52; luận Thuận chính lí Q. 6.; luận Thành Duy Thức Q. 5.; Câu xá luận quang kí Q. 2.].
II. Tam Đoạn. Căn cứ vào tính chất của các Pháp Bị đoạn trừ mà đoạn được chia làm 3 thứ là Tự tính đoạn, Bất Sinh Đoạn và Duyên Phược Đoạn. Tông Kính Lục quyển 76 giải thích như sau:1. Tự tính đoạn: Khi trí tuệ phát sinh thì tự tính của các Phiền Não Ám Chướng bị đoạn diệt.
2. Bất Sinh Đoạn: Khi đã chứng được Pháp Không ở Sơ địa thì khiến cho quả khổ của 3 đường ác không bao giờ sinh lại được nữa.3. Duyên Phược Đoạn: Đoạn trừ hoặc trong tâm, còn đối với các Trần Cảnh bên ngoài thì không khởi tâm tham, sân, tuy duyên theo cảnh nhưng không Nhiễm Trước, đó là Duyên Phược Đoạn. Trong 3 đoạn thì Tự tính đoạn và Bất Sinh Đoạn có năng lực đoạn trừ một cách Nhậm Vận tự nhiên, đó đều do Duyên Phược Đoạn làm cho Nhân Quả của 3 cõi Không Sinh lại nữa. Ngoài ra, Thành Duy Thức Luận Liễu Nghĩa Đăng quyển 5, phần cuối, ngoài Tam Đoạn còn thêm Tương ứng đoạn, gọi là Tứ đoạn. [X. luận Thành Duy Thức Q. 8.; Đại Minh Tam Tạng Pháp Số Q. 10.]. (xt. Tứ Đoạn).