Tâm Địa

《心地》 xīn dì

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

: có ba nghĩa chính:(1) Chỉ cho Giới (Sanskrit: śīla, Pāli: sīla ). Giới lấy tâm làm gốc, giống như Thế Gian lấy đại địa làm cơ sở; nên mới gọi Giới là Tâm Địa (đất tâm). Vì vậy có Pháp Môn Tâm Địa, tức là Pháp Môn chuyên hình trì Giới Luật tinh nghiêm. (2) Chỉ cho tâm của 50 vị của Bồ Tát, gồm Thập Tín (), Thập Trụ (), Thập Hạnh (), Thập Hồi Hướng (), Thập Địa (). Vị Bồ Tát căn cứ vào tâm mà tu hành, nên Thí Dụ tâm như đất, mới có tên là Tâm Địa. (3) Trong Thiền Tông, Bồ Đề do Tổ Sư Đạt Ma () truyền cũng được gọi là Tâm Địa. Trong Phạm Võng Bồ Tát Giới Kinh Nghĩa Sớ Phát Ẩn (, Tục Tạng Kinh Vol. 38, No. 679) có đoạn: “Thử Tâm Địa giới, phi thiện phi ác, nhi thật dĩ Hành Thiện chỉ ác vi dụng, y trì thử giới, nhiên hậu Hành Thiện hữu phương, chỉ ác hữu đạo (, giới Tâm Địa này, chẳng thiện chẳng ác, mà thật ra lấy công dụng của việc làm điều thiện dừng việc ác, nương vào việc giữ giới này, sau đó làm điều thiện mới có hướng, dừng việc ác mới có đường).” Hay trong Nguyên Tẩu Hành Đoan Thiền Sư Ngữ Lục (, Tục Tạng Kinh Vol. 71, No. 1419) có câu: “Tham Thiền chỉ yếu liễu Tâm Địa, Tâm Địa liễu thời chư Pháp Không (, Tham Thiền chỉ cần rõ Tâm Địa, Tâm Địa rõ rồi các Pháp Không).” Hoặc trong Cẩm Giang Thiền Đăng (, q.1, Tục Tạng Kinh Vol. 85, No. 1590) có đoạn rằng: “Nguyên giả thị Chúng Sanh Bản Giác chơn tánh, diệc danh Phật tánh, diệc danh Tâm Địa; ngộ chi danh Tuệ, tu chi danh Định, Định Tuệ thông danh vi Thiền, cố vân Thiền nguyên, diệc danh Thiền Na (, đầu nguồn là chơn tánh Bản Giác của Chúng Sanh, cũng gọi là Phật Pháp, cũng gọi là Tâm Địa; ngộ thì gọi là Tuệ, tu tập thì gọi là Định, tên chung của Định Tuệ là Thiền, tánh này là nguồn gốc của Thiền, nên gọi là nguồn Thiền, cũng gọi là Thiền Na).”