Sái

《灑》

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Cũng gọi Sa, Soát, Sát, Sí. Chỉ cho chữ (wa), 1 trong 50, hoặc 1 trong 42 chữ cái Tất Đàm. Nghĩa là tất cả Pháp Tính độn, là âm thanh chế phục 6 chỗ (6 căn), chứng được 6 Thần Thông. Tại Đại Nhật Kinh Sớ quyển 7 thì vì Bát Nhã vô tri tự tính độn, cho nên hợp với chữ Sái này. Cái gọi là tự tính độn chính là cái tâm hoàn toàn không Phân Biệt; không ngu, không trí, không tuệ, không thức, không tri, không vọng, không giác, cho đến hết thảy các Pháp Không thể lay động, là 1 Kim Cương địa thuần tịnh, kiên cố. Như người Thế Gian quí chuộng trí tuệ, ghét bỏ Ngu Si, ưa thích Niết Bàn, nhàm chán Sinh Tử. Nhưng chữ Sái này biểu trưng tất cả vốn chẳng sinh, cho đến tất cả vốn là tính vắng lặng, nên thực thì không có lợi (sắc bén – trí tuệ), độn (cùn lụt – Ngu Si) khác nhau, ví như dao Kim Cương sắc bén, nếu đối với vật không cứng chắc thì có thể nói là sắc bén, nhưng đối với Kim Cương mà nói thì sắc bén và cùn lụt cũng không 2 không khác. Luận Đại trí độ quyển 48 (Đại 25, 408 trung) nói: Nếu nghe chữWa liền biết 6 tướng của thân người. Vì chữ Phạm waw nghĩa là 6, lấy chữ wa(sái) làm chữ đầu của chữ waw, Trung Quốc dịch là Lục (6) cho nên mới có thuyết Hễ nghe chữWa (sái) liền biết 6 tướng của thân người. Ngoài ra, kinh Phương quảng đại Trang Nghiêm quyển 4 nêu ra nghĩa chế phục 6 chỗ, được 6 Thần Thông. Về nghĩa này thì phẩm Tự mẫu kinh Văn Thù Sư Lợi vấn quyển thượng và phẩm Tự mẫu trong kinh Văn thù vấn cũng nói giống nhau. [X. kinh Phật Bản Hạnh tập Q. 11.; kinh Phóng quang Bát Nhã Q. 4.; kinh Đại phẩm Bát Nhã Q. 8., 53; kinh Hoa nghiêm Q. 57. (bản dịch cũ); phẩm Thích tự mẫu trong kinh Du Già Kim Cương đính].