Quyền Thật Chỉ Quán

《權實止觀》 quán shí zhǐ guān

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Chỉ cho Tam quyền Chỉ QuánNhất Thực Chỉ Quán của tông Thiên thai. Tam quyền Chỉ QuánChỉ Quán thiên lệch như Tam Tạng quán, Thông quán và Biệt quán trong 4 thời (Hoa nghiêm, A hàm, Phương Đẳng, Bát Nhã) 3 giáo (Tạng, Thông, Biệt) do đức Phật nói trước thời Pháp hoa; còn Nhất Thực Chỉ Quán tức là Chỉ Quán viên đốn mà đức Phật đã nói trong thời Pháp hoa. Đứng về phương diện quan hệ giữa Tam quyền Chỉ QuánNhất Thực Chỉ Quán mà nói, thìpháp quán đầu là khai, pháp quán sau là hiển, theo ý tông Thiên thai, vì muốn hiển bày (hiển) Nhất Thực Chỉ Quán nên đức Phật mở ra (khai) Tam quyền Chỉ Quán. Ma Ha Chỉ Quán quyển 3, hạ (Đại 46, 34 thượng) nói: Chư Phật chỉ vì một Đại Sự Nhân Duyên mà xuất hiện ở đời, đó là vì hiển bày Nhất Thực Chỉ Quán mà mở ra Tam quyền Chỉ Quán. Quyền chẳng phải là bản ý của Phật, mà ý cũng khôngởngoài quyền, cốt mở ra Tam quyền Chỉ Quán để hiển bày Nhất Thực Chỉ Quán. Đức Phật biết bản tính ưa thích của Chúng Sinh, cho nên dùng Tứ tất đàn để tùy thuận hóa độ. Trong Tứ tất đàn, đức Phật dùngThế giới tất đàn thuận theo ý muốn của Chúng Sinh mà nói Tam quyền Nhất Thực Chỉ Quán: Nếu người muốn nghe Chính Nhân Duyên thì nói Tam Tạng quán; nếu muốn nghe lí Nhân Duyên tức không thì nói Thông quán; nếu muốnnghe đạo tu hành trong nhiều kiếp thì nói Biệt quán; nếu muốn nghe diệu lí Tức trung thì nói Viên quán.