Quỳ Tâm

《葵心》 kuí xīn

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

: tấm lòng trong sạch hướng về ánh sáng mặt trời, tâm tận trung và Cung Kính đối với nhà vua hay người bề trên. Quỳ () là một loại rau hướng về bốn phương mà nở hoa; như Sở Quỳ () là loại rau cần, Phù Quỳ () là rau nhút, Nhật Hướng Quỳ () là hoa Hướng Dương, v.v. Cho nên Quỳ Tâm còn có nghĩa là tâm chí thành, chí kính hướng về đấng tối cao. Trong bài thơ Hữu Tửu () của Nguyên Chẩn (, 779-831) nhà Đường có câu: “Quỳ Tâm khuynh hề hà hướng, tùng ảnh trực nhi thục minh (, Lòng thành nghiêng chừ nào hướng, tùng bóng thẳng mà sáng đâu ?).” Hay trong bài Phụng Hòa Trần Hiền Lương () của Tô Thức (, 1037-1101) nhà Tống cũng có câu: “Vọng cùng hải biểu thiên hoàn viễn, khuynh tận Quỳ Tâm nhật du cao, thân ngoại phù danh hưu tỏa tỏa, mộng trung Quy Tư dĩ thao thao (, Trông cùng biển cả trời xa thẳm, nghiêng tận lòng thành trời lên cao, thân thoát huyễn danh thôi bôn tẩu, mộng trong về ngẫm thôi lao đao).” Hoặc trong bài Đào Hoa Phiến () của Khổng Thượng Nhiệm (, 1648-1718) nhà Thanh có câu: “Bồ kiếm hà tu thức, Quỳ Tâm vị khẳng sai (, Kiếm cỏ làm sao thử, lòng thành đâu biết sai).”