Quy Chơn

《歸眞》 guī zhēn

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

: quay trở về với Chân Như bản tánh, trả lại trạng thái xưa nay, tức Niết Bàn (Sanskrit: nirvāṇa, Pāli: nibbāna ); cho nên đức Phật cũng như chư Tổ Sư Viên Tịch cũng gọi là Quy Chơn. Về sau, từ này cũng được dùng phổ cập cho các Cao Tăng, tu sĩ Phật Giáo khi qua đời; đồng nghĩa với quy tịch (). Như trong Thích Thị Yếu Lãm (, Taishō Vol. 54, No. 2127) quyển Hạ, phần Tống Chung (), giải thích rõ rằng: “Thích Thị tử, vị Niết Bàn, Viên Tịch, Quy Chơn, quy tịch, Diệt Độ, thiên hóa, thuận thế, giai nhất nghĩa dã; tùy tiện xưng chi, cái dị tục dã (便, dòng họ Thích [tu sĩ] qua đời, gọi là Niết Bàn, Viên Tịch, Quy Chơn, quy tịch, Diệt Độ, thiên hóa, thuận thế, đều cùng một nghĩa cả; tùy tiện mà gọi, vì khác với Thế Tục vậy).” Trong Tứ Giáo Nghi (, Taishō Vol. 46, No. 1929) quyển 1 cũng cho biết rằng: “Phù đạo tuyệt nhị đồ, Tất Cánh giả thường lạc, pháp Duy Nhất vị, Tịch Diệt giả Quy Chơn (, phàm đạo dứt hai đường, rốt cùng là thường lạc, pháp chỉ một vị, vắng lặng là về chơn).” Trong bài Đông Đô Phú () của Ban Cố (, 32-92) nhà Hán có câu: “Toại linh hải nội khí mạt nhi phản bổn, bối ngụy nhi Quy Chơn (, bèn khiến cho trong nước bỏ ngọn mà tìm nguồn, dứt dối mà về chơn).” Hay trong Nam Nhạc Tổng Thắng Tập (, Taishō Vol. 51, No. 2097) quyển Hạ, phần Lương Song Tập Tổ (), lại có đoạn: “Hốt nhất nhật vị môn nhân viết: 'Ngô tương Nhập Thất chi hậu, nhược hữu thiên khí dị thường, tốc lai báo ngô.' Lạp nhật trung ngọ tứ khí trừng thanh, Đệ Tử báo chi, nhi sách Mộc Dục Phần Hương, Tịch Nhiên Quy Chơn (, Một hôm nọ, Tổ chợt bảo với môn nhân rằng: 'Sau khi vào trong thất rồi, nếu có khí trời khác thường, mau đến báo cho ta biết.' Vào giữa trưa hôm sau, bốn khí lắng trong, Đệ Tử báo cho ngài biết, Tổ bèn nhờ tắm rửa, xông hương, rồi lẳng lặng ra đi).” Trong bài Bảo Nguyệt Đại Sư Tháp Minh () của Tô Thức (, 1037-1101) nhà Tống có câu: “Oánh nhiên Ma Ni, Quy Chơn Thử Độ (, suốt trong Ma Ni, Quy Chơn cõi này).”