Quỷ
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Phạm: Preta. Pàli: Peta. Quái vật có hình tướng rất đáng sợ, làm não hại người, là 1 trong 5 đường, 1 trong 6 đường, thông thường chỉ cho Tinh Linh người chết. Trong Kinh Điển Đại Thừa có lập Ngã quỉ đạo trong Lục Đạo. Ngã quỉ đạo do Chư Thiên sai khiến và thường chịu khổ đói khát. Ngoài ra còn có các loài quỉ như: Tệ quỉ, Hữu uy đức quỉ (quỉ có uy đức), Vô uy đức quỉ, Đa tài ngã quỉ (ngã quỉ nhiều của), Vô tài ngã quỉ...đều ở trong cõi Diêm Ma.Ở Ấn Độ đời xưa, người chết rồi mà không được cúng dường thì bị coi là quỉ. Ngã quỉ sự kinh (Pàli: Petavatthu) là 1 kinh của Tiểu Bộ kinh thuộc Đại Tạng Kinh Nam truyền, chuyên thu tập sự tích của loài quỉ đói này. Trong kinh Phật nói A bàng, La Sát, Sơn tinh, Tạp mị ... đều là quỉ thần. Còn những Tinh Linh hung bạo, Ngục Tốt ở Địa Ngục cũng là 1 loại quỉ. Cứ theo luận Câu xá quyển 8 thì quỉ có 2 loại là Thai sinh và Hóa sinh. Còn luận A Tì Đạt Ma thuận chính lí, quyển 31 thì nêu 9 loại quỉ là: Cự khẩu quỉ (quỉ miệng lửa), Châm khẩu quỉ (quỉ miệng kim), Xú khẩu quỉ(quỉ miệng hôi), Châm mao quỉ (quỉ lông nhọn như kim), Xú mao quỉ (quỉ lông hôi), Anh quỉ (quỉ bướu cổ), Hi tự quỉ (quỉ mong được cúng tế), Hi khí quỉ (quỉ mong được đồ vứt bỏ) và Đại thế quỉ (quỉ có thế lớn).[X. kinh Hiền ngu Q. 13.; kinh Phật Bản Hạnh tập Q. 49.]. (xt. Cửu Loại Quỉ, Quỉ Thần).