Quế Ảnh

《桂影》 guì yǐng

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

: chỉ bóng mặt trăng, ánh trăng. Theo Dậu Dương Tạp Trở () quyển 1, chương Thiên Chỉ () của tiểu thuyết gia Đoàn Thành Thức (, 803-863) nhà Đường cho biết rằng tương truyền trên mặt trăng có một cây Nguyệt Quế () cao 500 trượng. Dưới thời nhà Hán có một người tên là Ngô Cương (), say mê về tiên đạo mà không lo chuyên tâm học tập; vì vậy Thiên Đế nổi giận, đem chàng ta giam tại cung trăng, bắt chàng phải chặt cây quế và bảo rằng nếu như chặt đỗ cây quế đó thì có thể lấy được thuốc tiên. Ngô Cương bắt đầu chặt cây quế, nhưng sau khi chặt xong một nhát đao thì vết chặt tự nhiên liền lại. Ngày qua ngày, chàng trai tận lực đốn cây quế, nhưng không thành. Cho nên, Ngô Cương vẫn còn làm công việc này, vì cây quế vẫn chưa ngã và người đời sau thấy Hình Tượng chàng thanh niên kia chặt cây quế không ngừng nghỉ. Vì vậy, hình ảnh cây quế luôn gắn liền với mặt trăng qua một số từ ngữ như quế phách (), Quế Điện (殿), Quế Nguyệt (), v.v. Như trong bài thơ Sơn Trung Dạ Tọa Ký Cố Lí Hữu Sinh () của Lý Hàm Dụng (, ?-?) nhà Đường có câu: “Trùng thanh xúc xúc thôi hương mộng, Quế Ảnh cao cao quải lữ tình (, tiếng trùng thúc giục cố hương mộng, ánh trăng cao vút chở tình xa).” Trong bài từ Chúc Anh Đài Cận () của Lưu Cơ (, 1311-1375) nhà Minh có đoạn: “Thúy yên thu, châu lộ hạ, tinh Hán cọng tiêu sái, Quế Ảnh bồi hồi, bạch tuyết xán diêm ngõa (, khói biếc thu, sương châu rụng, ông sao cùng thong thả, bóng trăng bồi hồi, tuyết trắng cười ngói mái nhà).” Trong Sách Pháp Hiệu Nghĩa Biện Phúng Tụng Văn (, Taishō Vol. 85, No. 2857) có câu: “Liên Hoa ái nhi Quế Ảnh trầm huy, phương thọ điêu nhi lan tư bãi úc (姿, hoa sen tối mà ánh trăng thầm sáng, cây thơm tàn mà dáng lan rực rỡ).”