Quảng Hàn Cung

《廣寒宮》 guǎng hán gōng

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

: trong tác phẩm Long Thành Lục (), phần Minh Hoàng Mộng Du Quảng Hàn Cung (), của Liễu Tông Nguyên (, 773-819) nhà Đường cho biết rằng tương truyền vào ngày Rằm tháng 8, khi vua Huyền Tông (, tại vị 712-756) nhà Đường ngao du trên mặt trăng, chợt thấy một cung phủ lớn, có tấm bảng ghi là: “quảng hàn thanh hư chi phủ (, phủ lạnh lẽo trống không).” Về sau, người ta gọi cung tiên trên mặt trăng là Quảng Hàn Cung. Như trong bài thơ Túc Thủy Đình (宿) của Bảo Dung (, ?-?) nhà Đường có câu: “Dạ thâm tinh nguyệt bạn Phù Dung, như tại Quảng Hàn Cung lí túc (宿, trăng sao đêm nữa bạn hoa sen, như ở Cung Quảng Hàn tá túc).” Hay trong tác phẩm Liêu Trai Chí Dị (), chương Bạch Vu Ngọc (), của Bồ Tùng Linh (, 1640-1715) nhà Thanh, lại có đoạn: “Đồng đạo nhập Quảng Hàn Cung, nội dĩ Thủy Tinh vi giai, hành nhân như tại kính trung (, đồng đạo vào Cung Quảng Hàn, bên trong lấy Thủy Tinh làm bực thềm, người đi như ở trong kính).” Hoặc trong Thiền Tông Tạp Hải Độc (, Tục Tạng Kinh Vol. 65, No. 1278) quyển 8, phần Sơn Cư (), lại có bài thơ rằng: “Thảo Đường thu tợ Quảng Hàn Cung, kim sắc hoa khai bích ngọc tùng, tọa cửu bất tri phàm cốt hoán, thiên hương thanh tán Nguyệt Minh trung (, nhà tranh thu tựa Quảng Hàn Cung, hoa nở sắc vàng ngọc biếc tùng, chẳng biết ngồi lâu phàm cốt đổi, hương trời tỏa ngát trăng sáng trong).”