Qua Bích

《戈壁》 gē bì

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Mông cổ: Gobi. Cũng gọi Qua Bích than, Qua Bích sa mạc. Sa mạc Gobi ở Mông cổ. Sa mạc này phía đông chạy dài đến dãy núi Đại Hưng An, phía tây tiếp giáp cao nguyên Pamir, có thể chia làm 2 phần: Sa mạc Gobi ở phía đông Hami và sa mạc Takla Makan ở phía tây Hami, dài hơn 200 km vào rộng hơn 1.000 km2.Vùng này toàn cát có lẫn muối; vào cuối mùa xuân và đầu mùa hạ thường có cuồng phong, đến nổi khiến gò cát trong 1 đêm dời đổi mấy lần, vì thế gọi là Lưu Sa. Vùng này khô ráo, ít cầm thú, không có dấu chân người, mặt đất cỏ mọc không được. Trong Phật quốc kí, ngài Pháp Hiển miêu tả cuộc hành trình từ Đôn Hoàng đến nước Thiện thiện(Lâu lan) bên bờ hồ La bố bạc như sau (Đại 51, 857 thượng): Sa mạc có gió nóng quái ác, hễ gặp phải là chết, không ai toàn mạng. Trên không có chim bay, dưới không có thú chạy, (...) chỉ biết lấy xương khô người chết làm dấu mà đi. Tuy nhiên, cũng có những vùng ẩm thấp, có nước và cỏ mọc tốt, thích hợp cho việc chăn nuôi, hoặc có nhiều ao hồ, tiên lợi cho việc làm muối và thả cá. Các nước Tây vực nhờ vào đó mà duy trì sự sống. Các nhà Truyền Pháp, Dịch Kinh từ các nước Ấn Độ, Tây vực đến Trung Quốc đều phải đi qua sa mạc này; hoặc các vị Cao Tăng Đại Đức từ Trung Quốc đến Ấn Độ cầu pháp, cũng đều phải qua con đường này.[X. Chương thứ 1 trong thiên thứ 1 Trung Quốc Phật giáo phát triển sử của Trung thôn nguyên]. (xt. Tây Vực Phật Giáo, Phật Giáo Nhập Truyền Lộ Tuyến).