Phúc Huệ
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
I. Phúc Tuệ. Cũng gọi Phúc quán. Tức là 2 thứ Trang Nghiêm: Phúc Đức và Trí tuệ. Phúc là các nghiệp thiện Bố Thí, trì giới, Nhẫn Nhục, Tinh Tiến, thiền định thuộc về lợi người;Tuệ là trí tuệ, tức quán niệm Chân Lí, thuộc về lợi mình.Hoa Nghiêm Ngũ Giáo Chương quyển 2 (Đại 45, 490 hạ) nói: Trong Chung Giáo, bàn về thực hành, thì ngay từ lúc mới phát tâm đã tu cả phúc lẫn tuệ, cho đến khi Thành Phật không cần tu pháp nào khác nữa. [X. phẩm Phương Tiện kinh Pháp hoa; Ma Ha Chỉ Quán Q. 6.; Thiền uyển thanh qui Q. 6.]. (xt. Phúc Trí).
II. Phúc Tuệ (1623-?). Thiền Sư Trung Quốc, thuộc tông Lâm tế, sống vào cuối đời Minh đầu đời Thanh, người Trừng thọ, Du châu (tỉnh Tứ xuyên), họ Diệp, tự Tư tu, sau đổi là Dạ trúc. Năm 22 tuổi, song thân qua đời, sư nương vào ngài Đông minh hiểu Xuất Gia. Năm 30 tuổi, khi ở am Thiên Trúc tại Độc sơn, được ngài Tuyết lâm chỉ bảo, sư đến lễ yết Thiền Sư Sơn huy Hoàn bích ở Long Môn và đắc pháp, sư Thụ Giới Cụ Túc ở viện Vạn thọ, rồi trở về Độc sơn. Đầu năm Khang hi (1662-1722), sư Khai Đường giảng pháp ở viện Tung sơn tại Côn minh, có tới cả nghìn Học Tăng. Năm Khang hi 26, lúc đó sư đã 65 tuổi, được ngài Sơn huy ở viện Trường tùng Phó Chúc. Sau, sư lần lượt trụ ở viện Từ Vân phủ Vân nam, viện Trúc lâm phủ Mông hóa, viện Ngũ phúc tại Vân châu, phủ Thuận ninh, viện Thiện Pháp ở núi Thụ tông, viện Pháp hoa, núi Ngọa long, huyện Phú dân và viện Di Lặc ở châu Lộ nam, phủ Trưng giang, tất cả chùa viện trên đều ở tỉnh Vân nam. Sư có các tác phẩm: Tung sơn Dã trúc Thiền Sư Ngữ Lục 14 quyển, Tung sơn Dã trúc Thiền Sư hậu lục 8 quyển.
II. Phúc Tuệ (1623-?). Thiền Sư Trung Quốc, thuộc tông Lâm tế, sống vào cuối đời Minh đầu đời Thanh, người Trừng thọ, Du châu (tỉnh Tứ xuyên), họ Diệp, tự Tư tu, sau đổi là Dạ trúc. Năm 22 tuổi, song thân qua đời, sư nương vào ngài Đông minh hiểu Xuất Gia. Năm 30 tuổi, khi ở am Thiên Trúc tại Độc sơn, được ngài Tuyết lâm chỉ bảo, sư đến lễ yết Thiền Sư Sơn huy Hoàn bích ở Long Môn và đắc pháp, sư Thụ Giới Cụ Túc ở viện Vạn thọ, rồi trở về Độc sơn. Đầu năm Khang hi (1662-1722), sư Khai Đường giảng pháp ở viện Tung sơn tại Côn minh, có tới cả nghìn Học Tăng. Năm Khang hi 26, lúc đó sư đã 65 tuổi, được ngài Sơn huy ở viện Trường tùng Phó Chúc. Sau, sư lần lượt trụ ở viện Từ Vân phủ Vân nam, viện Trúc lâm phủ Mông hóa, viện Ngũ phúc tại Vân châu, phủ Thuận ninh, viện Thiện Pháp ở núi Thụ tông, viện Pháp hoa, núi Ngọa long, huyện Phú dân và viện Di Lặc ở châu Lộ nam, phủ Trưng giang, tất cả chùa viện trên đều ở tỉnh Vân nam. Sư có các tác phẩm: Tung sơn Dã trúc Thiền Sư Ngữ Lục 14 quyển, Tung sơn Dã trúc Thiền Sư hậu lục 8 quyển.