Phúc

《福》

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Phạm: Puịya. Pàli: Puĩĩa. Cũng gọi Công Đức, Phúc Đức. Chỉ cho những hành vicó năng lực mang lại hạnh phúc Thế Gian, xuất Thế Gian. Kinh A hàm chia thiện hạnh làm 2 loại: Xuất Thế Gian vô lậu Phạm HạnhThế Gian Hữu Lậu Phúc Đức. Phúc Đức chỉ cho việc Bố Thí... là Nhân Sinh lên cõi trời của những người tu hạnh Tại Gia. Phật giáo Bộ phái chia nghiệp buộc Chúng Sinh trong 3 cõi (Thế Gian) làm 3 loại: Phúc, Phi phúc, Bất Động và cho Phúc Nghiệp là nhân mang lại quả thiện trong cõi Dục. Đây là trường hợp Phúc chỉ được hạn cuộc trong Thế Gian. Đại Thừa thì chia hạnh Lục Độ làm 2 nghiệp là Phúc và Trí, gọi tất cả thiện hạnh không lấy trí tuệ làm thể là Phúc Nghiệp và được coi là nhân để Thành Phật. Đây là trường hợp Phúc không bị hạn định ở Thế Gian thôi mà thông cả xuất Thế Gian. Kinh Quán Vô lượng thọ cũng chia nhân tuTịnh độ lành Định Thiện (khi tu thiện làm cho tâm tập trung vào 1 đối tượng, không để tán lọan)Tán Thiện (dùng tâm Tán Loạn để tu thiện). Tán Thiện lại được chia làm Tam Phúc:
1. Thế Phúc: Đạo Đức Thế Gian.
2. Giới phúc: Giới luật do đức Phật chế định.
3. Hành phúc: Thiện Căn tự hành hóa tha.Do tu nhân Phúc Đức mà được Quả Báo hạnh phúc, gọi là Phúc nhân phúc quả. Ngoài ra, lấy chúng tăng làm đối tượng để Bố Thí có thể sinh ra Phúc Đức, chúng tăng được gọi là Phúc Điền (ruộng phúc). Nhà cửa cung cấp cho người lữ hành và nghèo khổ sử dụng, được gọi là Phúc Xá (Phạm: Puịyasàlà).