Phổ Tịch

《普寂》 pǔ jì

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

Fujaku, 651-739: vị Thiền tăng sống dưới thời nhà Đường, người vùng Hà Đông (), Bồ Châu (, Vĩnh Tế, Sơn Tây), họ Phùng (), cốt khí cao nhã, thông hiểu các điển tịch Nho gia, nhưng cuối cùng cũng bỏ Thế Tục mà cầu đạo giải thoát, thường nghe Đại Lương Bích Thượng Nhân () giảng về Kinh Pháp Hoa, Thành Duy Thức Luận, Đại Thừa Khởi Tín Luận, v.v. Năm 38 tuổi, ông thọ Cụ Túc Giới với Hòa Thượng Đoan ()Lạc Dương (), rồi theo Nam Tuyền Hoằng Cảnh () học Luật. Ông cũng từng đến tham yết Đại Thông Thần Tú ()Ngọc Tuyền Tự () vùng Kinh Châu (), theo thầy 7 năm (có thuyết cho là 6 năm), tinh tấn Tham Thiền, cuối cùng ngộ được Huyền Chỉ. Khi Thần Tú vâng sắc chỉ của Võ Hậu vào kinh, chúng tăng đều quy y theo ông. Đến năm thứ 2 (706) niên hiệu Thần Long (), khi Thần Tú qua đời, ông kế thừa thầy lãnh đạo đồ chúng. Vào năm thứ 13 (725) niên hiệu Khai Nguyên () đời vua Huyền Tông, ông vâng chiếu chỉ đến trú tại Kính Ái Tự (, có thuyết cho là Hoa Nghiêm Tự)Lạc Dương. Đến năm thứ 15 (có thuyết cho là năm thứ 13 hay 23) cùng niên hiệu trên, ông vào Trường An (), trú tại Hưng Đường Tự (), được hàng vương công sĩ thứ thường xuyên đến tham vấn. Chính ông là người đầu tiên giáo hóa Thiền Phong rộng rãi ở chốn kinh đô hơn cả thầy mình. Tánh tình ông rất cẩn trọng, ít nói, trì giới trong sạch. Vào năm thứ 27 (có thuyết cho là 28) niên hiệu Khai Nguyên, ông Thị Tịch tại Hưng Đường Tự, hưởng thọ 89 tuổi, được sắc phong hiệu Đại Chiếu Thiền Sư (), người đời thường gọi ông là Hoa Nghiêm Hòa Thượng (), Hoa Nghiêm Tôn Giả () và ông được tôn sùng như là vị tổ thứ 7 của Bắc Tông Thiền.