Phổ Tế
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
(1179-1253) Thiền Sư Trung Quốc sống vào đời Tống, người Phụng hóa, Tứ minh, họ Trương, hiệu Đại xuyên. Sư có tính trầm mặc từ nhỏ, thích tìm đọc sách Phật. Năm 19 tuổi, sư lễ ngài Văn Hiến ở việnHương lâm xin cạo tóc Xuất Gia, tu trì giới luật. Sau đó không lâu, sư đến Xích thành học lí Tính Cụ của tông Thiên thai, nhận ra đó chẳng phải con đường thẳng tắt vượt qua Sinh Tử, nên lập chí Tham Thiền. Sư yết kiến ngài Thiên Đồng Vô dụng, chuyên tâm tọa thiền, không ra khỏi Tăng Đường. Sau, sư đến tham vấn ngài Triết Ông Như Diễm, ngay câu nói liền khế hợp, bèn y chỉ nơi đây. Khi ngài Như diễm dời đến núi Thiên Đồng ở Tứ minh, sư cũng theo hầu và được giao công việc trông coi tạngKinh. Bấy giờ, Thừa tướng Sử trung Hiến vương kính trọng đức độ của sư, thỉnh sư trụ ở chùa Đại từ Báo quốc, sau dời đến ở chùa Tịnh Từ Quang hiếu tại Lâm an, sau lại đến ở chùa Cảnh đức Linh ẩn. Sau, sư lâm bệnh, xin nghỉ nhưng không được chấp thuận. Lúc Lâm Chung, sư dặn không được chôn cất linh đình mà phải ném di cốt xuống sông. Ngày 18 tháng giêng niên hiệu Bảo hựu nămđầu (1253) đời vua Lí tông nhà Nam Tống, sư Thị Tịch, thọ 75 tuổi. Sư để lại các tác phẩm: Ngũ Đăng Hội Nguyên, 20 quyển, Đại Xuyên Phổ Tế Thiền Sư Ngữ Lục, 1 quyển. [X. Linh ẩn Đại xuyên Thiền Sư Hành Trạng; Tục Truyền Đăng lục Q. 35.; Ngũ Đăng Nghiêm Thống Q. 22.].