Phi Vân
Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển
Định nghĩa thuật ngữ
: vén mây. Thuật ngữ thường được dùng khá phổ biến trong các Ngữ Lục Thiền để diển tả tâm cảnh Tự Tại vô ngại, giải thoát của Thiền giả. Như trong Thiền Tông Tạp Độc Hải (禪宗雜毒海, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 65, No. 1278) quyển 2, phần Tặng Biệt (贈別), có đoạn của Lý Cao (李翱, ?-?) rằng: “Tuyển đắc u cư khiếp dã tình, chung niên vô tống diệc vô nghênh, hữu thời trực thướng cô phong đảnh, Nguyệt Hạ Phi Vân tiếu nhất thanh (選得幽居愜野情、終年無送亦無迎、有時直上孤峰頂、月下披雲笑一聲, chọn chốn thâm u thỏa thích lòng, trọn năm không tiễn cũng chẳng nghinh, có lúc lên thẳng non cao đỉnh, dưới nguyệt vén mây cười vọng vang).” Hay trong Hám Sơn Lão Nhân Mộng Du Tập (憨山老人夢遊集, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 73, No. 1456) quyển 37, có bài Ký Sào Pháp Sư (寄巢法師) rằng: “Phi Vân đới nguyệt bão phong sương, thanh dạ điều điều hạc mộng trường, độc bãi Lăng Già hương triện tế, tri quân vô vật khả tư lường (披雲帶月飽風霜、清夜迢迢鶴夢長、讀罷楞伽香篆細、知君無物可思量, vén mây đeo nguyệt no gió sương, đêm vắng xa xăm hạc mộng trường, đọc hết Lăng Già còn ngút, biết người chẳng vật thể nghĩ lường).” Hoặc trong Liễu Am Thanh Dục Thiền Sư Ngữ Lục (了菴清欲禪師語錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 71, No. 1414), bài Chỉ Đường Tặng Vận Thị Giả (止堂贈運侍者), lại có câu: “Hà nhân Phi Vân phát trường khiếu, nhất thanh bình lạc thiên lâm gian (何人披雲發長嘯、一聲逬落千林間, ai người vén mây cười sang sảng, một tiếng rơi xa ngàn dặm rừng).”