Phạt Xà La Phất Đa La

《伐闍羅弗多羅》 fá dū luó fú duō luó

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Phạm:Vajra-putra. Cũng gọi Phạt xà na phất đa, Phạt xà la Phật Đà la, Xà la phất Đa La, Bạt tạp lí bô đáp lạt.Hán dịch: Kim Cương Tử. Tên vị A La Hán thứ 8 trong 16 vị A La Hán, cùng với 1.100 Quyến Thuộc trụ ở châu Bát lạt noa để giữ gìn Chính Pháp, làm Lợi Ích cho Chúng Sinh. Cứ theo kinh Thị Giả trong Trung a hàm quyển 8, sau khi đức Phật nhập Niết Bàn không bao lâu, một hôm ngài A nan nói pháp cho đại chúng nghe, tôn giả Kim Cương Tử cũng hiện diện trong đại chúng, Nhập Định thấy ngài A nan chưa lìa dục, liền xuất định nói kệ cho ngài A nan nghe. Ngài A nan nhân đó thụ giáo tôn giả Kim Cương Tử và rời chúng Tinh Tiến tu hành, cuối cùng chứng được quả A La Hán. Tôn giả Kim Cương Tử nêu trên đây chính là chỉ cho tôn giả Phạt Xà La Phất Đa La. Qua bức tượng do Đại sư Thiền nguyệt Quán Hưu vẽ vào đời Đường thì Ngài quấn áo pháp để hở nửa phần thân trên, ngồi trên phiến đá, 2 cánh tay giao nhau đặt trên đầu gối, bàn tay thõng xuống, dáng vẻ trầm tư, ở bên phải có 1 quyển kinh lá bối. Thi hào Tô Đông Pha đời Tống có bài tán rằng: Hai mắt lặng nhìn Hai tay buông thõng Mắt để vào kinh Tay buông trên gối Mắt tay quên nhau Cũng chẳng ngại nhau Bốn câu kệ này Trên đầu ngón tay. [X. La hán đồ tán tập; Phật Tượng đồ vựng Q. 3.].