Phật Pháp

《佛法》 fó fǎ

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Giáo pháp do đức Phật nói ra, bao gồm các thứ giáo nghĩa và Chân Lí Phật giáo mà giáo nghĩa ấy biểu đạt. Luận Thành thực quyển 1 nêu ra 6 từ ngữ đồng nghĩa với danh từ Phật Pháp gọi là Phật Pháp Lục Danh (6 tên gọi của từ Phật Pháp). Đó là:
1. Thiện thuyết: Nói đúng như thực.
2. Hiện báo: Làm cho người ta được Quả Báo ngayởđời hiện tại.
3. Vô thời: Không chờ đợi sao tốt sao xấu mà tùy thời tu đạo.
4. Năng tương: Dùng hạnh chân chính giáo hóa Chúng Sinh đến giác ngộ.
5. Lai thường: Phải tự mình chứng ngộ.
6. Trí giả tự tri: Người có trí tuệ có khả năng tự tin hiểu. Ngoài ra, Phật Pháp là pháp xuất Thế Gian, đối lại với Vương pháp là pháp tắc do các vua chúa đặt ra để thống trị nhân dân. Sự quan hệ giữa Phật Pháp và Vương pháp tùy thời tùy nơi mà có khác: Có lúc có nơi dùng Vương pháp để hộ trì Phật Pháp, truyền bá Phật Pháp, như các vua A dục, A nị sắc ca…... của Ấn Độ, vua Lương vũ của Trung Quốc...… Nhưng cũng có nơi có thời dùng Vương pháp để chống phá Phật Pháp, thậm chí tiêu diệt Phật Pháp, như cái họa Tam Vũ Nhất Tôn (Ba vua Vũ một vua Tôn) trứ danh trong lịch sử Phật giáo Trung Quốc. Lại nữa, Pháp mà đức Phật chứng ngộ được chính là Đạo Lí Duyên Khởi, Chân Lí của Pháp Giới. Nói theo nghĩa rộng thì tất cả lời nói chân thiện mĩ, cho đến các Sự Lí chân thực, chính xác…... đều là Phật Pháp. Còn nói theo nghĩa hẹp thì Phật Pháp thông thường chuyên chỉ cho giáo pháp do đức Phật Thích Ca Mâu Ni nói ra. [X. kinh Tạp a hàm Q. 20.; phẩm Tựa kinh Pháp hoa; kinh Kim Cương Bát Nhã; kinh Đại bảo tích Q. 4.].