Pháp Tính Tự
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Cũng gọi Chế Chỉ Tự, Chế chỉ Đạo Tràng. Chùa ở vùng tây bắc Quảng châu, do vị tăng người nước Kế tân sáng lập vào đời Đông Tấn, đặt tên là chùa Vương viên, hiện nay gọi là chùa Quang hiếu. Vào thời Nam triều, ngài Chân Đế trụ ở chùa này để Phiên Dịch Kinh Điển, các sư Tuệ khải, Tăng Tông... cũng theo nhau đến đây tham dự công việc Phiên Dịch của ngài Chân Đế. Khoảng năm Trinh quán, chùa được gọi là Càn minh Pháp Tính Tự. Niên hiệu Nghi phụng năm đầu (676), Lục tổ Tuệ năng đến chùa này, gặp đúng lúc Pháp sư Ấn Tông đang giảng kinh Niết Bàn, lúc đó có 2 vị tăng đang tranh luận về vấn đề gió động hay phướn động, ngài Tuệ năng bảo chẳng phải gió động cũng chẳng phải phướn động, mà chính là tâm của 2 Nhân Giả động. Sau đó, Lục tổ y vào Pháp sư Ấn Tông cạo tóc Xuất Gia, rồi ở dưới cội Bồ Đề mở ra Pháp Môn Đông Sơn. Vào đầu đời Bắc Tống, chùa được gọi là Càn minh Thiền Viện. Khoảng năm Diên hựu đời Nguyên, chùa đúc 1 cái vạc lớn cúng trai tăng. Khoảng năm Hồng vũ đời Minh, chùa trở thành Tăng lộc sở và được vua ban Đại Tạng Kinh. Năm Thành hóa thứ 8 (1472), vua ban biển hiệu Quang Hiếu Thiền Tự. Năm Thuận trị 11 (1654) đời Thanh, chùa bị phá hủy trong chiến tranh, sau do Thiền Sư Nguyên chí kiến thiết lại cho đến nay. (xt. Quang Hiếu Tự).