Pháp Tánh Tự

《法性寺》 fǎ xìng sì

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

Hosshō-ji: ngôi chùa hiện tọa lạc tại số 16 Chome (), Hon-machi (), Higashiyama-ku (), Kyōto-shi (). Vào năm 925 (niên hiệu Diên Trường [] thứ 3), vị Tả Đại Thần Đằng Nguyên Trung Bình (, Fujiwara-no-Tadahira, 880-949) kiến lập nên chùa này, lấy tượng Lô Xá Na Phật (Sanskrit: Vairocana, ) làm tượng thờ chính. Đây là ngôi chùa của dòng họ Đằng Nguyên vốn có thế lực đương thời. Họ cung thỉnh vị Thiên Thai Tọa Chủ Pháp Tánh Phòng Tôn Ý (, Soni, 966-940) làm tổ Khai Sơn của chùa. Từ đó về sau, nhờ sự trợ lực không ngừng của dòng họ này, chùa tiến hành xây dựng và tạc tượng Phật. Trong đó, công trình trứ danh đáng kể nhất là Ngũ Đại Đường () được kiến lập vào năm 1006 (niên hiệu Khoan Hoằng [] thứ 3), nhân lễ Khánh Hạ 40 tuổi của Đằng Nguyên Đạo Trưởng (, Fujiwara-no-Michinaga, 966-1027). Tượng thờ chính của ngôi viện này là tượng ngồi Bất Động Minh Vương (), hiện được an trí tại Đồng Tụ Viện () của Đông Phước Tự (, Tōfuku-ji). Vào năm 1239 (niên hiệu Diên Ứng [] thứ 1), Cửu Điều Đạo Gia (, Kujō Michiie, 1193-1252) cho xây dựng Đông Phước Tự ở vùng đất này, nên Pháp Tánh Tự bị phế bỏ, rồi lấy tượng đứng Thiên Thủ Quan Âm (, tiền bán thế kỷ thứ 10) làm tượng thờ chính. Tương truyền tượng này là tượng Phật thường trì niệm của Tôn Ý, cho nên tên gọi Pháp Tánh Tự vẫn còn lưu truyền cho đến ngày nay.