Pháp Luân
Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển
Định nghĩa thuật ngữ
s: dharmacakra, Pāli: dhammacakka: bánh xe pháp tỷ dụ cho Phật Pháp, có ba nghĩa chính. (1) Phá tan, vì Phật Pháp có thể phá tan Tội Ác của Chúng Sanh, giống như bánh xe báu của Chuyển Luân Thánh Vương có thể nghiền nát vụn những tảng đá lớn nhỏ; nên gọi là Pháp Luân. (2) Quay lăn mãi, vì giáo pháp của đức Phật không dừng lại ở bất cứ một người nào hay nơi nào, giống như bánh xe lăn mãi trên đường không dừng lại, nên gọi là Pháp Luân. (3) Tròn đầy, vì giáo pháp của đức Phật tròn đầy, không khuyết, nên lấy sự tròn đầy của bánh xe mà Thí Dụ. Như trong Hoa Nghiêm Đạo Tràng Khởi Chỉ Đại Lược (華嚴道塲起止大略, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 74, No. 1474) có đoạn: “Sơ thành chánh giác, hiện Thần Biến ư Bồ Đề Tràng trung, tái Chuyển Pháp Luân, chấn viên âm ư Phổ Quang Minh Điện, biến Thất Xứ nhi hằng diễn, lịch Cửu Hội dĩ đồng tuyên, phu vạn hạnh chi Nhân Hoa, nghiêm Nhất Thừa chi Đạo Quả (初成正覺、現神變於菩提塲中、再轉法輪、震圓音於普光明殿、遍七處而恆演、歷九會以同宣、敷萬行之因華、嚴一乘之道果, mới thành chánh giác, hiện Thần Biến nơi Bồ Đề Đạo Tràng, tái chuyển xe pháp, chấn viên âm nơi Phổ Quang Minh Điện, khắp Bảy Chốn mà hằng diễn, trãi chín hội vốn cùng tuyên, rãi muôn hạnh ấy Nhân Hoa, nghiêm Nhất Thừa ấy Đạo Quả).” Hay trong Kiến Trung Tĩnh Quốc Tục Đăng Lục (建中靖國續燈錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 78, No. 1556) quyển 9, phần Đông Kinh Đại Tướng Quốc Tự Huệ Lâm Thiền Viện Viên Chiếu Thiền Sư (東京大相國寺慧林禪院圓照禪師), cũng có đoạn: “Tích nhật Linh Sơn thắng tập, tùy cơ đại Chuyển Pháp Luân, kim triêu Tuyển Phật Trường khai, thùy thủ nguyện dương Phật Sự (昔日靈山勝集、隨機大轉法輪、今朝選佛場開、垂手願揚佛事, xưa kia Linh Sơn tập hội, tùy cơ đại Chuyển Pháp Luân, sáng nay Tuyển Phật Trường bày, buông tay nguyện làm Phật Sự).” Pháp Luân còn gọi là Phạm Luân (梵輪). Như trong Đại Trí Độ Luận (大智度論, Taishō Vol. 25, No. 1509) quyển 8 giải thích rằng: “Phật Chuyển Pháp Luân, hoặc danh Pháp Luân, hoặc danh Phạm Luân (佛轉法輪、或名法輪、或名梵輪, đức Phật chuyển bánh xe pháp, hoặc gọi là Pháp Luân, hoặc gọi là Phạm Luân).” Về tự tánh của Pháp Luân, các bộ phái đều có những thuyết khác nhau. Trong đó, 10 bộ như Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ (Sanskrit: Sarvāstivādin, 說一切有部), Đa Văn Bộ (Sanskrit: Bāhuśrutīya, Bāhulika, Pāli: Bahussutaka Bāhulika, 多聞部), Kinh Lượng Bộ (Sanskrit: Sautrāntika, 經量部), v.v., chủ trương lấy Bát Chánh Đạo (Sanskrit: āryāṣṭāṇga-mārga, āryāṣṭāṇgika-mārga, Pāli: ariyāṭṭhaṅgika-magga 八正道) làm thể của Pháp Luân. Còn 10 bộ khác như Đại Chúng Bộ (s, Pāli: Mahāsāṅghika 大衆部), Pháp Tạng Bộ (Sanskrit: Dharmaguptaka, 法藏部), Ẩm Quang Bộ (Sanskrit: Kāśyapīya, 飲光部), v.v., thì lấy ngôn từ của đức Phật làm Pháp Luân.