Pháp Khản
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
(551-623) Cao Tăng Trung Quốc, sống vào đời Tùy, người Huỳnh dương (thuộc Tỉnh Hà nam), họ Trịnh. Ban đầu, sư tu hành ở chùa Linh nham, núi Thái Sơn, sau sư theo Pháp sư Uyên học tập các bộ luận Thập Địa, Địa trì... Về sau, sư đến Kiến khang, theo Cư Sĩ Tào tì– Đệ Tử Tại Gia của ngài Chân Đế– nghiên cứu luận Nhiếp Đại Thừa. Năm Nhân thọ thứ 2 (602), đời Tùy, sư vâng sắc chỉ của vua Văn đế đưa Xá Lợi đến Tuyên châu (huyện Tuyên thành, tỉnh An huy) và Lê châu (thuộc Tỉnh Hà nam), cảm được điềm lạ. Vua Dạng đế từng xây cất chùa Nhật nghiêm ở Trường an, thỉnh các bậc Cao Tăng trong nước về luận đạo, sư cũng vâng sắc về tuyên giảng Duy Thức. Đến đầu đời Đường, sư được lập làm 1 trong Mười vị Đại Đức lãnh đạo giới Phật giáo. Cuối đời, sư dời đến ở chùa Đại hưng thiện, tận lực hoằng dương luận Nhiếp Đại Thừa. Năm Vũ đức thứ 6 (623), sư Thị Tịch, hưởng thọ 73 tuổi. [X. Tục Cao Tăng Truyện Q. 11.].