Pháp Hữu Ngã Vô Tông
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Tông Phái chủ Trương Thuyết Hết thảy pháp đều có thực trong 3 đời (Quá Khứ, hiện tại, vị lai), Pháp Thể hằng có, nhưng hoàn toàn không có cái Ta Chủ Quan. Đây là tông thứ 2 trong 10 tông theo sự phán giáo của tông Hoa nghiêm. Các bộ phái của Tiểu Thừa như: Tát Bà Đa bộ, Tuyết Sơn bộ, Đa Văn Bộ, Hóa Địa Bộ... đều thuộc tông này. Tông này chia các pháp làm 5 vị, 75 pháp, cho rằng 3 đời thực có, Pháp Thể hằng có, nhưng Ngã chỉ là cái tên của các pháp giả hòa hợp. Do lập trường chỉ thừa nhận có pháp chứ không thừa nhận có ngã, cho nên tông này được gọi là Pháp Hữu Ngã Vô Tông. [X. Hoa nghiêm Nhất Thừa giáo nghĩa Phân Tề chương Q. 1.]. (xt. Thập Tông). PHÁP HỶ
I. Pháp Hỷ. Cũng gọi Pháp Duyệt. Khi nghe giáo pháp của đức Phật, vì khởi tâm tin mà sinh lòng vui mừng. Kinh Hoa nghiêm (bản dịch cũ) quyển 2 (Đại 9, 403 trung) nói: Âm thanh của đức Phật có năng lực làm cho người nghe sinh lòng vui mừng, khiến mọi người được pháp hỷ. [X. Tán A di đà kệ].
II. Pháp Hỷ (?-?). Phạm: Dharmanandi. Hán âm: Đàm Ma Nan Đề. Hán dịch: Pháp hỷ. Cao Tăng người nước Đâu khư lặc, đến Trung Quốc vào khoảng năm Kiến nguyên (365-370) đời Phù Tần, tham dự công việc Dịch Kinh. (xt. Đàm Ma Nan Đề).
I. Pháp Hỷ. Cũng gọi Pháp Duyệt. Khi nghe giáo pháp của đức Phật, vì khởi tâm tin mà sinh lòng vui mừng. Kinh Hoa nghiêm (bản dịch cũ) quyển 2 (Đại 9, 403 trung) nói: Âm thanh của đức Phật có năng lực làm cho người nghe sinh lòng vui mừng, khiến mọi người được pháp hỷ. [X. Tán A di đà kệ].
II. Pháp Hỷ (?-?). Phạm: Dharmanandi. Hán âm: Đàm Ma Nan Đề. Hán dịch: Pháp hỷ. Cao Tăng người nước Đâu khư lặc, đến Trung Quốc vào khoảng năm Kiến nguyên (365-370) đời Phù Tần, tham dự công việc Dịch Kinh. (xt. Đàm Ma Nan Đề).