Pháp Hoa Tông

《法華宗》 fǎ huá zōng

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

Hokkeshūtức Nhật Liên Tông (, Nichirenshū): theo pháp chế hiện tại thì đây là đoàn thể tôn giáo lấy Cửu Viễn Tự (, Kuon-ji) ở vùng Thân Diên (, Minobu) làm Đại Bản Sơn; nhưng nếu xét về mặt lịch sử thì đây là tên gọi chung của tập đoàn tôn giáo vốn kế thừa và thực hiện giáo lý của Nhật Liên dưới Thời Đại Liêm Thương. Với ý nghĩa đó, Pháp Hoa Tông là tên gọi do các Tông Phái khác gọi về Nhật Liên Tông, hay cũng là tiếng tự xưng, và phần nhiều cách gọi này được dùng phổ biến hơn. Năm 1282, Nhật Liên (, Nichiren) chỉ danh 6 người Đệ Tử chân truyền của ông là Nhật Chiêu (, Nisshō, 1221-1323), Nhật Lãng (, Nichirō, 1245-1320), Nhật Hưng (, Nikkō, 1246-1333), Nhật Hướng (, Nikō, 1253-1314), Nhật Đảnh (, Nicchō, 1252-1317 hay 1328?)Nhật Trì (, Nichiji, 1250-?), với tên gọi là Lục Lão Tăng (). Sau đó, các Môn Phái được hình thành Dòng Phái Nhật Chiêu (, tức Dòng Phái Banh []), Dòng Phái Nhật Lãng (, tức Dòng Phái Tỷ Xí Cốc []), Dòng Phái Nhật Hưng (, tức Dòng Phái Phú Sĩ []), Dòng Phái Nhật Hướng (, Dòng Phái Thân Diên []). Sau khi Nhật Liên qua đời, xuất hiện thêm Dòng Phái Nhật Hưng (, tức Dòng Phái Trung Sơn []). Thật thể của Nhật Liên Tông thời Trung Đại chính là những Môn Phái vừa nêu trên. Các Môn Phái mở rộng vùng giáo tuyến của mình ở vùng Đông Quốc, rồi sau đó dần dần tiến về phía kinh đô Kyoto làm cứ điểm hoạt động giáo hóa cho giáo đoàn. Những nhân vật có công trong việc này là Nhật Tượng (, Nichizo, 1269-1342) thuộc Dòng Phái Tứ Điều () vốn lấy Diệu Hiển Tự (, Myōken-ji) làm trung tâm; Nhật Tĩnh (, Nichijō, 1298-1369) của Dòng Phái Lục Điều (), lấy Bổn Quốc Tự ( hay , Honkoku-ji) làm trung tâm. Kế thừa dòng phái này có Nhật Tôn (, Nisson, ?-1603) của Dòng Phái Phú Sĩ; rồi Nhật Thân (, Nisshin, 1407-1488)Nhật Chúc (, Nisshū, 1437-1513) của Dòng Phái Trung Sơn. Họ không những tiếp cận hàng công gia khanh tướng, mà còn lấy tầng lớp thương gia, công nhân và nông dân làm Môn Đồ; nhờ vậy đã tạo dựng được rất nhiều tự viện khắp nơi. Bên cạnh đó, những cuộc luận tranh về lập trường Tích Môn hay Bổn Môn của Kinh Pháp Hoa, cũng như điểm hay dở trong kinh bắt đầu được triển khai. Về phía Dòng Phái Lục Điều, Nhật Trận (, Nichijin, 1339-1419) sáng lập ra Bổn Thiền Tự (, Honzen-ji), rồi hình thành nên Dòng Phái Nhật Trận (, tức Dòng Phái Bổn Thành Tự [, Honjō-ji]). Còn về phía Dòng Phái Tứ Điều, hai chùa Diệu Giác Tự (, Myōkaku-ji)Diệu Liên Tự (, Myōren-ji) chia rẽ nhau; Nhật Long (, Nichiryū, 1385-1464) thì chủ trương tính hay dở của kinh, lấy Bổn Hưng Tự () ở vùng Ni Khi (, Amazaki)Bổn Năng Tự (, Honnō-ji) ở kinh đô Kyoto làm cứ điểm hoạt động truyền đạo, rồi hình thành nên Dòng Phái Nhật Hưng (, tức Dòng Phái Bát Phẩm []). Trường hợp Nhật Thập (, Nichijū, 1314-1392) thì Khai Cơ Diệu Mãn Tự (滿, Myōman-ji) và sáng lập ra Dòng Phái Nhật Thập (, tức Dòng Phái Diệu Mãn Tự [滿]). Nhật Thân sáng lập Bổn Pháp Tự (, Hompō-ji), còn Nhật Chúc thì có Đảnh Diệu Tự (, Chōmyō-ji), và hình thành Dòng Phái Quan Tây Trung Sơn (西). Những ngôi Già Lam này mở rộng phạm vi hoạt dộng ở vùng Tây Quốc, còn ở kinh đô Kyoto thì có được 21 ngôi chùa. Dưới thời đại Chiến Quốc, Nhật Liên Tông đã cùng với với dân chúng trong thôn xóm hình thành đội tự vệ. Trước uy lực mạnh mẽ như thế này, các giáo đoàn của những Tông Phái khác tập trung lại với nhau tại Diên Lịch Tự (, Enryaku-ji), hợp với các nhà Đại Danh có thế lực, dòng võ lực đàn áp Nhật Liên Tông. Từ đó, xảy ra vụ Loạn Thiên Văn Pháp Hoa () vào năm thứ 5 (1536) niên hiệu Thiên Văn (). Khi ấy, các chùa ở kinh đô đều phải lánh nạn đi nơi khác, và sau mới được phép cho trở về. Đến thời Trung Đại, chủ trương gọi là “Bất Thọ Bất Thí (, Không Nhận Không Cho)” của Nhật Liên Tông bị những nhà lãnh đạo chính quyền đương thời như Chức Điền Tín Trưởng (, Oda Nobunaga), Phong Thần Tú Cát (, Toyotomi Hideyoshi), Đức Xuyên Gia Khang (, Tokugawa Ieyasu) chống đối kịch liệt. Cho nên xảy ra các vụ pháp nạn lớn, nhiều tăng lữ cũng Như Tín đồ phải hy sinh trong mấy lần pháp nạn này. Đến thời Cận Đại, tổ chức giáo dục chư tăng được thiết lập. Về mặt xuất bản cũng rất thịnh hành, các bức di văn của Nhật Liên từ đó được lưu hành rộng rãi. Truyện Nhật Liên cũng được lưu bố khắp nơi, cho nên xuất hiện các tác phẩm như Nhật Liên Thánh Nhân Chú Họa Tán (), Nhật Liên Đại Thánh Nhân Ngự Truyền Ký (), v.v. Đặc sắc lớn của Nhật Liên Tông thời Cận Đại là triển khai cuộc vận động Phật Giáo Tại Gia, trong đó cuộc vận động Quốc Trụ Hội () của Điền Trung Trí Học () là đối ứng với sự hưng thịnh của quốc gia Minh Trị (, Meiji); rồi Bổn Đa Nhật Sanh () tổ chức thành Thiên Tình Hội (), thâu nạp toàn tầng lớp trí thức và quân nhân. Trong khi đó, nhóm Sơn Điền Tam Lương () thì thành Lập Pháp Hoa Hội (). Vào thời kỳ Đại Chánh (, Taishō), Chiêu Hòa (, Shōwa), tôn giáo tân hưng thuộc hệ Nhật Liên Tông bắt đầu triển khai. Sau thời chiến, một số hội khác ra đời như Linh Hữu Hội (, Reiyūkai), Lập Chánh Giao Thành Hội (, Risshōkōseikai), Sáng Giá Học Hội (, Sōkagakkai), v.v., và Nhật Liên Tông trở Thành Tôn giáo đại chúng. Căn cứ vào tài liệu Nhật Bản Sử Từ Điển (, Nihonshijiten) của Triêu Vĩ Trực Hoằng (, Asao Naohiro), Vũ Dã Tuấn Nhất (, Uno Shunichi), Điền Trung Trác (, Tanaka Migaku), nhà xuất Bản Giác Xuyên Thư Điếm (, 1996) cho biết rằng hiện tại Nhật Liên Tông có một số dòng phái chính (theo thứ tự tên dòng phái, chùa trung tâm) như: (1) Môn Lưu Banh (), Diệu Pháp Tự (, Myōhō-ji, Kamakura); (2) Môn Lưu Lãng (), Diệu Bổn Tự (, Myōhon-ji, Kamakura), Bổn Môn Tự (, Honmon-ji, Musashi); (3) ; (4) Môn Lưu Tảo Nguyên (), Diệu Quang Tự (, Myōkō-ji, Kamifusa); (5) Môn Lưu Lục Điều (), Bổn Quốc Tự (, Honkoku-ji, Kyōto); (6) Môn Lưu Trung Sơn (), Bổn Diệu Pháp Hoa Kinh Tự (, Honmyōhokkekyō-ji, Shimofusa); (7) Môn Lưu Tứ Điều (), Diệu Hiển Tự (, Myōken-ji, Kyoto); (8) Phái Bất Thọ Bất Thí (), Diệu Giác Tự (, Myōkaku-ji, Bizen); (9) Môn Phái Bất Thọ Bất Thí Giảng (), Diệu Giác Tự (, Myōkaku-ji, Bizen); (10) Môn Lưu Phú Sĩ (), Đại Thạch Tự (, Daiseki-ji, Suruga); (11) Phái Bổn Thành Tự (), Bổn Thành Tự (, Honjō-ji, Echigo); (12) Phái Diệu Mãn Tự (滿), Diệu Mãn Tự (滿, Myōman-ji, Kyoto); (13) Phái Bát Phẩm (), Bổn Hưng Tự (, Honkō-ji, Settsu), Bổn Năng Tự (, Honnō-ji, Kyoto); (14) Phái Bổn Long Tự (), Bổn Long Tự (, Honryū-ji, Kyoto).