Pháp Hoa Nhị Diệu

《法華二妙》 fǎ huá èr miào

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Cũng gọi Đãi tuyệt nhị diệu. Chỉ cho Tương đãi diệu và Tuyệt đãi diệu. Đây là dụng ngữ phán giáo của tông Thiên thai. Tức là:
1. Tương đãi diệu: Cái này và cái kia đối đãi nhau, gọi là Tương đãi; đối lại với Thô, gọi là Diệu. Nghĩa là những giáo pháp đã nói trong 4 thời (Hoa nghiêm, Lộc Uyển, Phương Đẳng, Bát Nhã), 3 giáo (Tạng, Thông, Biệt) là Thô, còn giáo pháp được nói trong kinh Pháp hoa là Diệu. Tức là cái Thô của 4 thời, 3 giáo được dùng để làm cho cái Diệu của Pháp hoa nổi bật hẳn lên, cho nên gọi là Tương đãi diệu.
2. Tuyệt đãi diệu: Pháp hoa xóa bỏ Tam Thừa Quyền Giả để nêu tỏ Nhất Thừa chân thực, nhưng Tam Thừa tức Nhất Thừa (Phật Thừa), cả hai vốn chỉ là một. Thực tức là quyền, quyền tức là thực, dứt các tướng thô, không còn tướng đối đãi, cho nên gọi là Tuyệt đãi diệu. [X. Pháp hoa kinh Huyền Nghĩa Q. 2. thượng đến Q. 6. thượng; Ma Ha Chỉ Quán Q. 3. thượng; Pháp Hoa Huyền Nghĩa thích tiêm Q. 4., 5; Chỉ Quán Nghĩa Lệ Q.hạ; Tứ Minh Giáo hành lục Q. 3.; Pháp Hoa Huyền Nghĩa tư kí Q. 2.; Pháp Hoa Huyền Nghĩa giảng nghĩa Q. 2.]. (xt. Tương Đãi Diệu).