Pháp Đường

《法堂》 fǎ táng

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Chỉ cho Giảng đường trong Thiền Lâm, tọa lạc ở phía sau điện Phật và phía trước nhà Phương Trượng, 1 trong 7 tòa nhà trong toàn Già Lam. Cứ theo Lịch Đại Tam Bảo Kỉ quyển 12 và Cảnh Đức Truyền Đăng Lục quyển 4, thì ở Trung Quốc từ xưa, ngoài Phật Điện cũng có Pháp Đường. Cho đến thời Thiền Sư Bách trượng Hoài Hải mới định ra qui chế Thiền Lâm, phỏng theo điện Thái Cực của triều đình mà kiến lập Pháp Đường. Chính giữa thiết lập một tòa cao, 4 phía đều trông thấy, nhưng đời sau phía sau tòa, đặt 1 bức bình phong lớn bằng gỗ, làm mất ý nghĩa ban đầu. Hoặc có thuyết cho rằng Pháp Đường trong Thiền Viện là mô phỏng kiểu kiến trúc Thiện Pháp Đường của Trời Đế Thích. Thiền uyển thanh qui quyển 10 (Vạn 111, 466 thượng) nói: Không Kiến thiết Phật Điện, chỉ tạo lập Pháp Đường. Căn cứ vào đó có thể biết trong Thiền Lâm thời xưa không có Phật Điện, chỉ có Pháp Đường. Về sau mới xây Phật Điện ở phía trước Pháp Đường. Hoặc trong các chùa viện nhỏ thì Phật ĐiệnPháp Đường được dùng chung. [X. kinh Phật Bản Hạnh tập Q. 50.; chương Tôn tổ trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.thượng; Thiền uyển thanh qui Q. 5., 7, 9; môn Điện Đường trong Thiền Lâm Tượng Khí Tiên]. (xt. Giảng Đường).