Phạn Tăng

《飯僧》 fàn sēng

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

: tên gọi khác của Trai Tăng (), tức thiết bày cơm chay cúng dường Tăng Chúng, chỉ chung cho việc cúng dường tại các tự viện hay tư gia Phật tử. Theo Phạm Võng Kinh () quyển hạ, vào ngày cha mẹ, anh em, Hòa Thượng, A Xà Lê () qua đời, hoặc vào dịp 21 ngày hay 49 ngày, nên đọc tụng, thuyết giảng kinh luật Đại Thừa, thiết lập Trai Hội để Hồi Hướng Công Đức cho những người này. Ban đầu, việc Trai Tăng thể hiện Tín Tâm, quy y; nhưng về sau thì chuyển sang mục đích chúc tụng, báo ân, làm điều thiện, v.v.; vì vậy việc làm này trở thành phổ cập hóa. Tại Trung Quốc, Pháp Hội Trai Tăng rất thịnh hành dưới thời nhà Đường, vào năm thứ 7 (772) niên hiệu Đại Lịch (), trong khoảng niên hiệu Trinh Nguyên (, 785-805), năm thứ 12 (871) niên hiệu Hàm Thông (), đều có cử hành những lễ Trai Tăng long trọng. Ngoài ra, tại Nhật Bản, Triều Tiên, Đài Loan, Việt Nam, v.v., hình thức Trai Tăng cũng rất phổ cập và được xem trọng. Trong Ma Ha Tăng Kỳ Luật (Sanskrit: Mahāsaṅghavinaya, , Taishō No. 1425) quyển 22 có đoạn: “Nhĩ thời hữu Trưởng Giả tựu Tinh Xá trung Phạn Tăng, Lục Quần Tỳ Kheo tiên đa thọ canh, hậu thọ phạn (, lúc bấy giờ có vị Trưởng Giả đến Tinh Xá cúng dường Trai Tăng, nhóm Lục Quần Tỳ Kheo trước hết thọ nhận nhiều canh xúp, sau mới thọ nhận cơm).”