Phần Kinh Thai

《焚經台》 fén jīng tái

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Đài đốt kinh. Đây là nơi mà vào thời vua Minh Đế nhà Hán, đạo Phật và đạo Lão đốt kinh để xem đạo nào Chân Thật, đạo nào không Chân Thật. Vào ngày mồng 1 tháng giêng năm Vĩnh bình 14 (71), các đạo sĩ ở Ngũ Nhạc Bát sơn gồm 690 người, đứng đầu là Chử Thiện Tín, dâng biểu xin vua cho đốt kinh của Phật giáo và Đạo Giáo (Lão giáo) để xem kinh của đạo nào Linh Nghiệm hơn. Ngày rằm cùng tháng, vua hạ lệnh cho dân chúng tập hợp ở trên đàn, đốt Kinh Điển của 2 đạo, sách của Đạo Giáo đều cháy thành tro, còn kinh Phật thì không hề hấn gì. Điều Dịch sư trong Phiên Dịch Danh Nghĩa Tập quyển 7 có dẫn bài thơ nhan đề Phần Kinh Đài của vua Thái tông nhà Đường như sau (Đại 54, 1178 thượng): Môn kính tiêu tiêu trường lục đài, Nhất hồi đăng thử nhất bồi hồi; Thanh ngưu mạn thuyết Hàm quan khứ, Bạch Mã thân tòng Ấn Độ lai. Xác thực thị phi bằng liệt diệm, Yếu phân chân ngụy trúc cao đài. Xuân phong dã giải hiềm lang tạ, Xuy tận đương niên Đạo Giáo khôi. (Dịch ý: Đường lên thăm thẳm rêu xanh mọc dài, Mỗi lần đến đây lòng thấy bồi hồi. Trâu xanh nói bịp từ Hàm quan ra đi (1) Ngựa trắng đích thân từ Ấn Độ tới (2). Đúng hay sai nhờ lửa mạnh xác định Thật hay giả phải lập đài cao mới biết. Gió xuân cũng biết ghét sự bừa bãi. Nên đã thổi sạch tro tàn của Đạo Giáo năm xưa). Chú thích của người dịch: (1).Trâu xanh: Theo lịch sử Đạo Giáo, lúc 50 tuổi, ngài Lão Tử cỡi con trâu xanh ra khỏi cửa ải Hàm cốc, rồi đi về phía tây và từ đó không thấy ngài xuất hiện nữa. (2).Ngựa trắng: Theo lịch sử Phật giáo Trung Quốc, vào khoảng năm Vĩnh bình (58–75) đời vua Minh Đế nhà Đông Hán, 2 ngài Ca Diếp Ma Đằng và Trúc Pháp Lan dùng ngựa trắng mang kinh và tượng Phật từ Ấn Độ đến Trung Quốc truyền bá. Lịch sử Phật giáo Trung Quốc bắt đầu từ đó. (xt. Ca Diếp Ma Đằng).