Phạm Trăn
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Cao Tăng Trung Quốc sống vào đời Tống, người Tiền Đường, vốn tên là Hữu trăn, hiệu Nam bình. Sau khi Thụ Giới Cụ Túc, sư theo học ngài Tứ Minh Tri Lễ, ngài Tri lễ truyền hết các học thuyết của tông Thiên thai cho sư, ngoại trừ Ma Ha Chỉ Quán ngài không truyền mà bảo sư phải tự đọc lấy. Sư đọc hơn 20 lần, sau đó, ngài Tri lễ mới Ấn Khả. Năm Hoàng hựu thứ 3 (1051), sư đến chùa Thượng Thiên Trúc, năm sau về Kim Sơn. Năm Hi minh thứ 5 (1072), nhận lời thỉnh của quan Thái thú Hàng châu, sư đến giảng ở chùa Hưng giáo tại Nam bình. Sư có tài hùng biện, thường dựa vào các vấn đề Quán Tâm, quán Phật... để mở rộng các cuộc bàn luận, đối đáp với các vị thuộc phái Hậu Sơn Ngoại như Tịnh Giác Nhân nhạc... nổi tiếng 1 thời. Tác phẩm Thích Thập Loại của sư mở ra 1 trường phái trứ tác rất đặc biệt, các tác phẩm khác của sư đều theo hình thức sáng tác này. Sau khi sư tịch, vào khoảng năm Sùng trinh, được đặt Thụy Hiệu là Thực Tướng Pháp Sư. Sư để lại các tác phẩm: Thích Thập Loại, Chư văn loại tập, Độc giáo kí, Tự Dư Tập, Lạc Bang Văn Loại, Thập Bất Nhị Môn Tổng Biệt chỉ qui (sách này đã thất lạc).