Phá Tà Hiển Chính
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Cũng gọi Phá tà thân chính, Tồi tà Hiển Chính, Phá hiển, Phá Thân. Phá dẹp tà đạo, nêu rõ chính lí. Trong vũ trụ bao la, có vô lượng vô biên các pháp, nhưng thâu tóm lại thì không ngoài 2 thứ Tà và Chính. Người bị vướng mắc vào đường tà thì trôi lăn trong Thế Giới tối tăm; người thấy rõ con đường chính thì tiêu dao trong cõi sáng sủa. Bởi thế, các bậc Thánh hiền ngày trước đã đem lòng từ bi lân mẫn phá dẹp tà thuyết, hiển bày chính lí để hoàn thành Đại Sự Chuyển Mê Khai Ngộ. Các Tông Phái Phật giáo đều lấy Phá Tà Hiển Chính làm mục đích chủ yếu, đặc Biệt Tông Tam Luận rất coi trọng việc này. Thuyết Phá Tà Hiển Chính của tông Tam Luận có khác với các tông khác. Thông thường, các tông cho rằng Phá Tà Hiển Chính là đối với tà đạo cần phải bài xích, bác bỏ; đối với chính lí phải làm cho sáng tỏ; thế nên, ngoài việc phá tà cần phải Hiển Chính. Nhưng tông Tam Luận thì chủ trương lập và phá đồng thời, nghĩa là khi phá tà tức là đã Hiển Chính rồi, ngoài phá tà ra không cần có Hiển Chính. Khi các pháp tà như tà đạo, Tà Kiến, Tà Chấp đã bị phá bỏ, thì chính lí Trung Đạo, Thực tướng các pháp tự nhiên hiển bày. Tông Tam Luận còn cho rằng các tông khác chủ trương ngoài việc phá tà, còn có Hiển Chính riêng, thì Hiển Chính ấy lại trở thành Thiên Chấp; như vậy, phá tà của người khác, nhưng mình lại rơi vào tà thì không thể gọi là phá tà chân chính được. Trong Tam Luận Huyền Nghĩa, Đại sư Gia tường thuộc tông Tam Luận, chia Phá Tà Hiển Chính làm 4 loại để thuyết minh là: Phá chẳng thu, Thu chẳng phá, Cũng phá cũng thu và Chẳng phá chẳng thu. Loại thứ 4 là phương pháp Phá Tà Hiển Chính chân thực. [X. Đại Thừa Huyền Luận Q. 5.; Trung quán luận sớ Q. 1., 3, 10; Bách Luận Sớ Q.thượng, trung; Tam Luận du ý nghĩa].