Niệm Thuần
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Cao Tăng Trung Quốc sống vào đời Minh, người Thái hòa, tỉnh Giang tây, họ Quách, húy Trí nhất. Thân mẫu nằm mộng thấy hoa sen trắng mà mang thai sư, lúc sinh ra sư, ánh sáng soi khắp nhà. Ngay từ nhỏ sư không chịu ăn cá thịt. Lên 10 tuổi sư đã thông suốt Nội Điển, 18 tuổi đậu Tiến sĩ, từng làm quan đến chức Đô ngự sử, Tuần Phủ Quí châu và Quảng đông. Năm 25 tuổi, gặp nạn quyền thần thao túng, sư bỏ quan và theo Thiền Sư Đơn hà Đại tố Xuất Gia, y vào Đại sư Vân thê Liên Trì Thụ Giới. Trong khoảng 10 năm sư đi Tham Học khắp nơi, Thiền Tịnh song tu, cuối cùng sư đại ngộ và được các ngài Tử bá, Hàm Sơn Ấn Khả. Năm Thiên Khải thứ 6 (1626), sư lập am Liên Xã, Chuyên Tu Tịnh Độ, mỗi ngày niệm 10 vạn Danh Hiệu Phật A di đà, lại cất chùa Ngao sơn, am Thanh Liên, Chiên Đàn lâm... Các nơi xa gần ngưỡng mộ Đạo Phong của sư tranh nhau đến học rất đông và nhiều người Đắc Độ. Tháng 7 năm Thuận trị 16 đời Thanh sư tịch, hưởng thọ 73 tuổi, 48 tuổi hạ. Sư mất được 100 ngày mà sắc mặt vẫn như sống, hương thơm không tan. Quan Tri châu là La công và tín chúng lưu giữ nhục thân của sư ở am Liên Xã để cúng dường, đến nay đã hơn 300 năm mà không hư hoại. Sư có các tác phẩm: Quan châm thanh loa tập, Thiền tịnh song tu tập, Tịnh Độ thi. [X. Tăng đính Phật Tổ đạo ảnh Q. 4. (Hư Vân)].