Nhị Không

《二空》 èr kōng

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Hai thứ không. Về tên gọi cũng như cách giải thích trong các kinh luận có khác nhau.
I. Nhân không và Pháp Không, gọi chung là Nhân Pháp Nhị Không, Sinh Pháp Nhị Không. Nhân không cũng gọi Ngã Không, Sinh Không, tức là Chân Lí nhân Ngã Không vô. Người Phàm Phu vọng chấp 5 uẩn(sắc Thụ Tưởng hành thức)là ngã, cho ngã là Chủ Tể, sinh ra Phiền Não, tạo ra các nghiệp. Để phá trừ cái vọng chấp ấy nên đức Phật nói lí 5 uẩn Vô Ngã, cho rằng ngã chỉ là sự hòa hợp giả tạm của 5 uẩn, hoàn toàn không có Chủ Tể thường nhất. Hàng Nhị Thừa Thanh Văn, Duyên Giác nghe lời Phật dạy mà vào được lí Vô Ngã, gọi là Nhân không. Pháp Không, tức là Chân Lí các Pháp Không vô. Hàng Nhị Thừa khi chưa đạt được lí Pháp Không thì vẫn còn chấp 5 uẩn là thực có, vì phá trừ vọng chấp này nên Phật nói Bát Nhã thâm tuệ, khiến họ thấy suốt tự tính 5 uẩn đều không. Hàng Bồ Tát nghe lời dạy ấy của Phật mà vào được lí các pháp đều không, gọi là Pháp Không. [X. luận Đại trí độ Q. 93.; luận Thành Duy Thức Q. 1.].
II. Đãn KhôngBất Đãn Không. Có 2 nghĩa: a) Trong 4 giáo Tạng, Thông, Biệt, Viên thì Tạng GiáoThông Giáo không thấu rõ 3 đế Không, Giả, Trung, mà quán xét tất cả pháp thảy đều hư ảo, cứ theo lí không ấy mà dẫn đến lí tột bực là chỉ thấy không chứ chẳng thấy Bất Không, cho nên gọi là Đãn Không. Còn cái không của Biệt Giáo và Viên giáo là cái không của 3 đế tương tức, chẳng những chỉ thấy không mà còn thấy cả Bất Không, Bất Không tức Trung Đạo, cho nên gọi là Bất Đãn Không. b) Đứng về phương diện Tạng GiáoThông Giáo mà nói, thì Tích Không Quán của Tạng GiáoĐãn Không, còn Thể Không Quán của Thông GiáoBất Đãn Không. Đó là vì trong Thể không có bao hàm lí Trung Đạo.[X. Ma Ha Chỉ Quán Q. 3.; Thất thiếp kiến văn Q. 2., phần cuối].
III. Tính không và Tướng không, gọi chung là Tính Tướng Nhị Không. Các Pháp Không có thực tính, gọi là Tính không; các pháp đã không có thực tính, mà chỉ có cái tướng giả danh, nhưng tướng này cũng chẳng phải thực có, nên gọi là Tướng không. [X. Ma Ha Chỉ Quán Q. 5.].
IV. Như thực không và Như thực Bất Không: Trong thể chân Như Không có tất cả vọng nhiễm, nhưng hiển bày cái thực 1 cách hoàn toàn, vì thế gọi là Như thực không. Tuy nhiên, trong thể Chân Như có đầy đủ tất cả Công Đức vô lậu, cho nên gọi là Như thực Bất Không. [X. luận Đại Thừa khởi tín].
V. Quyền không và Thực không, gọi chung là Quyền thực Nhị Không. Nghĩa là lí Sinh Không mà hàng Nhị Thừa Ngộ Nhập là Quyền không; còn lí Sinh Pháp Nhị Không mà hàng Bồ Tát Ngộ Nhập là Thực không. [X. luận Bảo tính; luận Biện trung biên Q.thượng; Đại Thừa Huyền Luận Q. 4.]. Ngoài ra, trong Mật giáo, khi Kết Ấn khế, dùng 5 ngón tay phối hợp với 5 luân mà gọi đất là ngón út, nước là ngón vô danh, lửa là ngón giữa, gió là ngón trỏ và không là ngón cái, bởi thế, khi nói Nhị Không tức là chỉ cho 2 ngón tay cái vậy.