Nhân Minh Học

《因明學》 yīn míng xué

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

Immyōgaku: tên gọi của một trong 5 học vấn gồm Nhân Minh (), Thanh Minh (), Công Xảo Minh (), Y Phương Minh ()Nội Minh (). Nếu xét từ ý nghĩa của chữ, Nhân Minh (hetu-vidyā, ) có nghĩa là học vấn về lý do (nhân) trong suy lý, suy luận, nhưng về cơ bản thì nó là học vấn nhằm khảo sát kỹ thuật cũng như quy tắc của nghị luận. Các bậc vương hầu Ấn Độ từ ngày xưa đã từng tạo ra những cuộc luận tranh giữa các tôn giáovà các triết học ngay trước mặt họ, rồi tìm ra điểm hay dở của chúng và bên nào giành được thắng lợi thì sẽ được viện trợ hậu hỷ về mặt tài chính. Từ phong tục này, Nhân Minh đã trở thành một loại vấn đề mang tính sống còn, nên nó được nghiên cứu rất thấu đáo. Trần Na (Sanskrit: Dignāga, Dinnāga, Tạng Hán: Phyogs-kyi glaṅ-po ), nhân vật xuất hiện vào khoảng thế kỷ thứ 5 hay 6 Tây Lịch, đã kết hợp tiêu điểm luận cứu trong chính cái suy lý, suy luận để làm sáng tỏ hình thứcđúng hay không đúng của nhân, và xác lập nên học vấn hơn hẳn cả luận lý học thông thường. Chính vì lẽ đó, Nhân Minh trước thời Trần Na được gọi là Cổ Nhân Minh, còn Nhân Minh trở về sau là Tân Nhân Minh. Tân Nhân Minh này đã từng luận tranh với học phái Nyāya và nhờ có Pháp Xưng (Sanskrit: Dharmakīrti, , khoảng thế kỷ thứ 7) mà hình thành nên hệ thống giáo học rất tinh xảo. Tuy nhiên, tác phẩm Hán dịch đáng chú mục là sách cương yếu Nhân Minh Nhập Chánh Lý Luận () của Thương Yết La Chủ (Sanskrit: Śaṃkrasvāmin, ) nhân vật sống cùng khoảng thời kỳ và cũng là môn nhân của Trần Na. Sau đó có bộ sách chú thích rất lớn về tác phẩm này cũng được viết nên là Nhân Minh Đại Sớ (). Ở Nhật Bản, nếu nói về nghiên cứu Nhân Minh thì người ta chỉ tập trung nghiên cứu bộ này mà thôi. Khởi đầu là Thiện Châu (, Zenshu, 723-797) ở Thu Tiểu Tự () dưới thời Nại Lương, các học giả Nhân Minh đã xuất hiện liên tục, đặc biệt trong Pháp Tướng Tông truyền thống nghiên cứu về Nhân Minh này rất được xem trọng.