Ngũ Tỳ Kheo

《五比丘》 wǔ bǐ qiū

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

s: pañca-bhikṣavah, Pāli: pañcavaggiyā-bhikkhū: hay còn gọi là Ngũ Quần Tỳ Kheo ( nhóm năm vị Tỳ Kheo), tên của 5 vị Tỳ Kheo mà trước khi chưa thành Chánh Quả, đức Thế Tôn đã từng chung sống tu khổ trong vòng 6 năm trường. Sau khi biết được việc tu Khổ Hạnh, ép xác không phải là Pháp Môn để đạt đến giải thoát, nên ngài xuống tắm dưới sông Ni Liên Thuyền (Sanskrit: Nairañjanā,p: Nerañjarā, ), nhận bát cháo sữa của cô gái chăn dê cúng dường và trở lại ăn uống bình thường. Thấy vậy, 5 vị này khinh thường và bỏ ngài đi. Sau khi thành đạo, đức Thế Tôn nhớ đến 5 người này, bèn đến Vườn Lộc Uyển (Sanskrit: Mṛgadāva, Pāli: Migadāya 鹿) tuyên thuyết bài pháp đầu tiên hóa độ cho họ. Đây là những người Đệ Tử đầu tiên nhất của đức Phật và được gọi là 5 vị Tỳ Kheo, gồm:(1) A Nhã Kiều Trần Như (Pāli: Ājñātakauṇḍinya, Pāli: Aññā-Koṇḍañña ), còn gọi là A Nhã Cư Lân (), A Nhã Câu Lân (), A Nhã Đa Kiều Trần Na (), Kiều Trần Như (),(2) A Thấp Bà Thị (Sanskrit: Aśvajit, Aśvaka; Pāli: Assaji ), hay còn gọi là A Thuyết Thị (), A Thuyết Chỉ (), A Thấp Ti (), Mã Thắng (), (3) Bạt Đề (Sanskrit: Bhadrika, Pāli: Bhaddiya ), còn gọi là Bà Đề (), Bạt Đề Lê Ca (), Bà Đế Lợi Ca (),(4) Ma Ha Nam (s, Pāli: Mahānāma ), còn gọi là Ma Ha Na Ma (), và (5) Thập Lực Ca Diếp (Sanskrit: Daśabala-kāśyapa, Pāli: Das abala-kassapa ). Trường hợp Thập Lực Ca Diếp đôi khi được thay bằng Bà Sa Ba (Sanskrit: Bāṣpa, Pāli: Vappa ), như trong Trung Bổn Khởi Kinh (), Phật Sở Hành Tán (), v.v.