Ngộ Không

《悟空》 wù kōng

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Cao Tăng Trung Quốc, sống vào đời Đường, người Vân dương, Kinh triệu (nay là Kinh dương, tỉnh Thiểm tây), họ Xa, tên Pháp Giới, tự Ngộ Không, là hậu duệ của họ Thác bạt đời Bắc Ngụy. Năm Thiên bảo thứ 9 (750), nước Kế tân sai Đại thủ lãnh Tát ba đạt cán và Tam Tạng Xá Lợi việt ma đến Trung Quốc cầu thân. Năm sau, triều đình nhà Đường cử sư làm Tả vệ theo phái đoàn của Trung sứ Trương thao quang đến nước Kế tân đáp lễ. Sau khi hoàn tất sứ mệnh, Sứ đoàn Trương thao quang trở về nước, riêng sư vì lâm bệnh nên phải lưu lại Kế tân. Sau khi bệnh thuyên giảm, sư xin ngài Tam Tạng Xá Lợi việt ma Thế Phát Xuất Gia, Pháp HiệuĐạt Ma Đà Đô (Phạm:Dharma-dhàtu, Hán dịch: Pháp Giới), lúc ấy sư được 27 tuổi. Năm 29 tuổi, sư Thụ Giới Cụ Túc ở nước Ca thấp di la, học luật nghi và tiếng Phạm ở chùa Mông đề, học xong, sư đi tham lễ các chùa Phật suốt 4 năm. Sau, sư đến Trung Thiên Trúc chiêm bái các Thánh tích như: Tháp nơi Phật giáng sinh ở thành Ca tì la vệ, tháp ở Đạo Tràng Bồ Đề nơi Phật thành đạo tại nước Ma yết đà và lưu lại An Cư ở chùa Bồ Đề. Sau An Cư, sư đến chiêm bái tháp nơi đức Phật nhập Niết Bàn ở Sa la song lâm tại thành Câu Thi Na, cuối cùng, sư về trụ ở chùa Na lan đà. Năm Hiển đức thứ 3 (765), sư trở về Trung Quốc, mang theo các kinh bằng tiếng Phạm như: Kinh Thập Địa, kinh Hồi Hướng luân, kinh Thập LựcXá Lợi Phật. Dọc đường, qua các nước, sư đều lưu lại để dịch các kinh nói trên. Vào tháng 9 năm Trinh nguyên thứ 5 (789), sư theo quan Trung sứ Đoàn minh tú về nước, dâng Xá Lợi Phật và các kinh đã dịch được lên vua. Sư vâng chiếu chỉ chính thức được độ làm tăng và được ban Pháp HiệuNgộ Không. Những kinh do sư dịch gồm 3 bộ 11 quyển được thu vào Trinh nguyên tân định Thích Giáo Mục Lục. Còn Hành Trạng của sư do ngài Viên chiếu soạn được ghi trong Đại đường trinh nguyên Tân Dịch Thập Địa kinh... trong Đại chính tạng tập 17. [X. Tống Cao Tăng Truyện Q. 3.; Trinh nguyên tân định Thích Giáo Mục Lục Q. 17.].