Nghĩa
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Phạm: Artha. Pàli: Attha. Hán âm: A tha, A đà.
I. Nghĩa. Có 3 nghĩa: Ý tứ, Đạo Lí, Ý nghĩa. Trong đó ý nghĩa và nghĩa lí dùng chung. Còn Đạo Lí thì chỉ cho chính nghĩa (Đạo Lí truyền thống đích thực), trái lại là bất chính nghĩa, Tà Nghĩa, dị nghĩa v.v... Hiển bày Đạo Lí 1 cách hoàn toàn sáng tỏ, gọi là Liễu Nghĩa, ngược lại là bất Liễu Nghĩa (vị Liễu Nghĩa, chưa rõ nghĩa). Liễu Nghĩa và bất Liễu Nghĩa gọi chung là Nhị nghĩa. Trong các kinh luận thường thấy các nhóm từ như: Đệ Nhất Nghĩa Đế, hoặc Đệ Nhất Nghĩa Không, tức lấy Chân Đế làm Đệ nhất nghĩa, Tục đế là Đệ nhị nghĩa. Nhưng tông Hoa nghiêm thường dùng giáo và nghĩa đối nhau và ý nghĩa cũng khác với nghĩa phổ thông. Cứ theo Hoa Nghiêm Kinh Thám Huyền Kí quyển thượng, thì giáo pháp của Tiểu Thừa, giáo và nghĩa đều không viên dung, còn giáo pháp của Tam Thừa thì giáo viên dung mà Nghĩa Không viên dung, chỉ có Biệt Giáo Nhất Thừa của Hoa nghiêm là giáo và nghĩa đều viên dung. Lại cứ theo Hoa Nghiêm Ngũ Giáo Chương quyển 1, đứng về phương diện Căn Bản Pháp Luân mà nói, thì Nhất Thừa Hoa nghiêm có giáo có nghĩa; còn nói theo Chi mạt Pháp Luân, thì Mạt Giáo Tam Thừa chỉ có giáo mà không có nghĩa; lại nói theo Nhiếp mạt qui bản Pháp Luân thì Tam xa(xe dê, xe nai, xe trâu, ví dụ Tam Thừa) là Phương Tiện giáo, còn Đại Bạch Ngưu Xa (xe trâu trắng lớn, ví dụ Nhất Phật Thừa) là Chân thực giáo. Ngoài ra, Đại Thừa Pháp Uyển Nghĩa Lâm Chương quyển 2 phần cuối nêu ra 2 loại nghĩa là Cảnh giới nghĩa và Đạo Lí nghĩa, đồng thời cho rằng trong 4 loại Thắng Nghĩa đế: Thế Gian Thắng Nghĩa, Đạo Lí Thắng Nghĩa, Chứng Đắc Thắng Nghĩa và Thắng Nghĩa Thắng Nghĩa, thì 3 loại trước là Y huyên đàm chỉ (nương vào sự giải thích mà bàn về yếu chỉ), cho nên thuộc về Cảnh giới nghĩa; còn loại thứ 4 Thắng Nghĩa Thắng Nghĩa đế là Phế Thuyên Đàm Chỉ (bỏ giải thích, nói yếu chỉ), cho nên thuộc về Đạo Lí nghĩa. [X. kinh Tạp a hàm Q. 12.; kinh Thế Gian phúc trong kinh Trung a hàm Q. 2.; kinh Đại bảo tích Q. 52.; luận Thành Duy Thức Q. 9.]. (xt. Nhị Đế).
II. Nghĩa. Tiếng dùng trong Nhân Minh. Trong luận thức Nhân Minh, Tiền Trần (danh từ trước) của Tông (mệnh đề) được gọi là Thể, còn Hậu Trần (danh từ sau) được gọi là nghĩa. Như trong mệnh đề âm thanh là vô thường, thì vô thường là nghĩa, mà âm thanh là thể. [X. Nhân Minh Nhập Chính Lí Luận Sớ Q.thượng]. (xt. Thể).
I. Nghĩa. Có 3 nghĩa: Ý tứ, Đạo Lí, Ý nghĩa. Trong đó ý nghĩa và nghĩa lí dùng chung. Còn Đạo Lí thì chỉ cho chính nghĩa (Đạo Lí truyền thống đích thực), trái lại là bất chính nghĩa, Tà Nghĩa, dị nghĩa v.v... Hiển bày Đạo Lí 1 cách hoàn toàn sáng tỏ, gọi là Liễu Nghĩa, ngược lại là bất Liễu Nghĩa (vị Liễu Nghĩa, chưa rõ nghĩa). Liễu Nghĩa và bất Liễu Nghĩa gọi chung là Nhị nghĩa. Trong các kinh luận thường thấy các nhóm từ như: Đệ Nhất Nghĩa Đế, hoặc Đệ Nhất Nghĩa Không, tức lấy Chân Đế làm Đệ nhất nghĩa, Tục đế là Đệ nhị nghĩa. Nhưng tông Hoa nghiêm thường dùng giáo và nghĩa đối nhau và ý nghĩa cũng khác với nghĩa phổ thông. Cứ theo Hoa Nghiêm Kinh Thám Huyền Kí quyển thượng, thì giáo pháp của Tiểu Thừa, giáo và nghĩa đều không viên dung, còn giáo pháp của Tam Thừa thì giáo viên dung mà Nghĩa Không viên dung, chỉ có Biệt Giáo Nhất Thừa của Hoa nghiêm là giáo và nghĩa đều viên dung. Lại cứ theo Hoa Nghiêm Ngũ Giáo Chương quyển 1, đứng về phương diện Căn Bản Pháp Luân mà nói, thì Nhất Thừa Hoa nghiêm có giáo có nghĩa; còn nói theo Chi mạt Pháp Luân, thì Mạt Giáo Tam Thừa chỉ có giáo mà không có nghĩa; lại nói theo Nhiếp mạt qui bản Pháp Luân thì Tam xa(xe dê, xe nai, xe trâu, ví dụ Tam Thừa) là Phương Tiện giáo, còn Đại Bạch Ngưu Xa (xe trâu trắng lớn, ví dụ Nhất Phật Thừa) là Chân thực giáo. Ngoài ra, Đại Thừa Pháp Uyển Nghĩa Lâm Chương quyển 2 phần cuối nêu ra 2 loại nghĩa là Cảnh giới nghĩa và Đạo Lí nghĩa, đồng thời cho rằng trong 4 loại Thắng Nghĩa đế: Thế Gian Thắng Nghĩa, Đạo Lí Thắng Nghĩa, Chứng Đắc Thắng Nghĩa và Thắng Nghĩa Thắng Nghĩa, thì 3 loại trước là Y huyên đàm chỉ (nương vào sự giải thích mà bàn về yếu chỉ), cho nên thuộc về Cảnh giới nghĩa; còn loại thứ 4 Thắng Nghĩa Thắng Nghĩa đế là Phế Thuyên Đàm Chỉ (bỏ giải thích, nói yếu chỉ), cho nên thuộc về Đạo Lí nghĩa. [X. kinh Tạp a hàm Q. 12.; kinh Thế Gian phúc trong kinh Trung a hàm Q. 2.; kinh Đại bảo tích Q. 52.; luận Thành Duy Thức Q. 9.]. (xt. Nhị Đế).
II. Nghĩa. Tiếng dùng trong Nhân Minh. Trong luận thức Nhân Minh, Tiền Trần (danh từ trước) của Tông (mệnh đề) được gọi là Thể, còn Hậu Trần (danh từ sau) được gọi là nghĩa. Như trong mệnh đề âm thanh là vô thường, thì vô thường là nghĩa, mà âm thanh là thể. [X. Nhân Minh Nhập Chính Lí Luận Sớ Q.thượng]. (xt. Thể).