Mộc Tinh
Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển
Định nghĩa thuật ngữ
: có nhiều nghĩa khác nhau. (1) Tuế Tinh (歲星), như trong Hậu Hán Thư (後漢書), Truyện Tương Hài (襄楷傳) có câu: “Kim niên Tuế Tinh cửu thủ Thái Vi, nghịch hành Tây chí Dịch Môn, hoàn thiết Chấp Pháp; Tuế vi Mộc Tinh, háo sanh ác sát, nhi yêm lưu bất khứ giả, cữu tại nhân đức bất tu, tru phạt thái khốc (今年歲星久守太微、逆行西至掖門、還切執法、歲爲木精、好生惡殺、而淹留不去者、咎在仁德不修、誅罰太酷, năm nay Tuế Tinh giữ lâu nơi Thái Vi, đi ngược về phía Tây đến Dịch Môn, rồi trở lại đi ngang qua sao Chấp Pháp; Tuế là Mộc Tinh, thích giết vật sống, mà lại ở lâu không đi, cũng tại không tu nhân đức, giết phạt rất khốc liệt).” (2) Linh Hồn của cây cối, đồng nghĩa với Mộc Linh (木靈), như trong Thuật Dị Ký (述异記) của Nhiệm Phưởng (任昉, 460-508) nhà Lương thời Nam Triều, có câu: “Thiên niên Mộc Tinh vi thanh ngưu (千年木精爲青牛, Linh Hồn cây cối ngàn năm biến thành con trâu xanh).” (3) Con Lân, như trong Cổ Vi Thư (古微書), phần Xuân Thu Diễn Khổng Đồ (春秋演孔圖) có câu: “Lân, mộc chi tinh dã (麟、木之精也, con Lân là Linh Hồn của cây cối).” Tống Quân (宋均, ?-?) nhà Ngụy (魏, 220-266) thời Tam Quốc chú giải rằng: “Lân, Mộc Tinh, mộc sanh vu thủy cố viết âm, mộc khí hảo thổ, thổ hoàng mộc thanh, cố Lân sắc thanh hoàng (麟、木精、木生于水故曰陰、木氣好土、土黃木青、故麟色青黃, Lân là Linh Hồn cây cối; cây cối sanh nơi nước nên gọi là âm; khí cây cối thích đất; đất màu vàng, cây màu xanh, cho nên màu con Lân là xanh vàng).”