Minh Thái Tổ

《明太祖》 míng tài zǔ

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Vị vua sáng lập triều Minh, Trung Quốc, người Hào châu (nay là huyện Phượng dương, tỉnh An huy), họ Chu, tên Nguyên chương, tự Quốc thụy, miếu hiệu Thái tổ, Thụy Hiệu Cao hoàng đế. Năm 17 tuổi, cha mẹ qua đời, ông vào chùa Hoàng giác Xuất Gia làm tăng được 7 năm. Đến cuối đời Nguyên, loạn lạc nổi lên, ông bỏ chùa, đi theo ông Quách tử hưng làm thân binh, dần dần thăng đến Đại tướng. Sau khi Quách tử hưng mất, ông Kế Nghiệp thống lãnh quân sĩ tiêu diệt quần hùng, xưng Đế tại Kim lăng, đổi quốc hiệu là Minh, niên hiệu là Hồng vũ. Sau đó, ông đánh đuổi nhà Nguyên, thống nhất Trung Quốc. Trong thời gian đầu, triều chính rất tốt đẹp, nhưng về già ông trở nên hà khắc đa nghi, giết cả công thần hào tộc đến hơn vài mươi vạn người. Ông ở ngôi được 31 năm thì qua đời, hưởng thọ 71 tuổi. Vì mới đầu, vua từng làm tăng tu tập Phật Pháp, nên sau khi lên ngôi, ông nhận thấy kỉ cương của chúng tăng vào cuối đời Nguyên đã quá lỏng lẻo, không hiểu Thánh ý, nên ông mời các bậc Cao Tăng, cùng nhau lập ra chế độ, biên soạn, sửa đổi thanh qui, sám nghi, chú sớ để làm mực thước cho thiên hạ noi theo. Đồng thời đặt ra chế độ giáo dục chúng tăng, chia chùa viện Phật làm 3 loại: Thiền, Giảng và Giáo. Năm Hồng vũ thứ 4 (1371), vua thỉnh cử 8 vị tăng gồm các ngài Tổ xiển, Khắc Cần v.v... làm sứ thần đưa tiễn sứ Nhật bản về nước. Vua có ảnh hưởng rất lớn đối với Phật giáo Trung Quốc. [X. Minh Sử Q. 1., 2, 3; Minh Thái Tổ thực lục Q. 68.].