Minh Phủ

《冥府》 míng fǔ

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

: còn gọi là Âm Phủ (), là cơ sở hành chánh của Thế Giới bên kia sau khi chết, văn phòng của vua Diêm Ma. Người thống trị Minh PhủMinh Vương Áo Tây Lí Tư (); vị này là đại thần của toàn quốc, sau A Mông (). Vị trí của Áo Tây Lí Tư thậm chí còn cao hơn cả ông cố là Thái Dương Thần (). Theo nghiên cứu cho biết rằng ban đầu ông là Hồng Thủy Thần (, Thần Nước Lũ) của Sông Ni La (, Nile), và về sau được cách hóa thành Minh Vương. Đồng thời, ông cũng có thần cách như Thái Dương Thần; tuy nhiên vẫn giữ thân Minh Vương. Mặt khác, ông không phải là đại diện cho sự tối tăm, mà là thần của ánh sáng. Về sau, A Nỗ Tỷ Tư (), người giữ gìn các vong linh, được xem như là con của Áo Tây Lí Tư, được phong chức trợ lý cho cha. Sở dĩ Áo Tây Lí Tư được xem như là vị đại thần của toàn quốc, vì nó có liên quan đến quan điểm tử vong của người Ai Cập. Họ cho rằng chết đi không phải là kết thúc sinh mạng, mà đạt đến con đường sống mãi; cho nên người chết được sống lại nơi Thế Giới do Áo Tây Lí Tư thống trị và vĩnh viễn sinh tồn. Đó là lý do vì sao người Ai Cập cổ xưa đã xây dựng các Kim Tự Tháp cũng như mộ đế vương cho những vị Quốc Vương họ. Căn cứ vào thuyết của Kim Chi (), Áo Tây Lí Tư cùng với vợ là Y Hy Tư () trở lại làm thần cây. Sự phục hoạt của Áo Tây Lí Tư có ý Nghĩa Tương đồng với sự phục hoạt thần cây của Tây Á và Hy Lạp. Theo quan điểm Tín Ngưỡng của Trung Quốc, dưới Minh Phủ có 10 vị Minh Vương cai quản 10 ngôi điện, được gọi là Thập Điện Minh Vương (殿) hay Thập Điện Từ Vương (殿). Theo Địa Phủ Thập Vương Bạt Độ Nghi () thuộc Kinh Điển của Đạo Giáo, dưới Minh Phủ có 10 cung, mỗi cung có 1 vị Chơn Quân cai quản, gồm: (1) Cung thứ nhất của Tần Tố Diệu Quảng Chơn Quân (), còn gọi là Tần Quảng Đại Vương (); (2) Cung thứ hai của Âm Đức Định Hưu Chơn Quân (), còn gọi là Sơ Giang Đại Vương (); (3) Cung thứ ba của Động Minh Phổ Tĩnh Chơn Quân (), còn gọi là Tống Đế Đại Vương (); (4) Cung thứ tư của Huyền Đức Ngũ Linh Chơn Quân (), còn gọi là Ngỗ Quan Đại Vương (); (5) Cung thứ năm của Tối Thánh Diệu Linh Chơn Quân (), còn gọi là Diêm La Đại Vương (); (6) Cung thứ sáu của Bảo Túc Chiêu Thành Chơn Quân (), còn gọi là Biến Thành Đại Vương (); (7) Cung thứ bảy của Thái Sơn Huyền Diệu Chơn Quân (), còn gọi là Thái Sơn Đại Vương (); (8) Cung thứ tám của Vô Thượng Chánh Độ Chơn Quân (), còn gọi là Bình Đẳng Đại Vương (); (9) Cung thứ chín của Phi Ma Diễn Hóa Chơn Quân (), còn gọi là Đô Thị Đại Vương (); (10) Cung thứ mười của Ngũ Linh Uy Đức Chơn Quân (), còn gọi là Chuyển Luân Đại Vương (). Qua đó, ta thấy rằng 10 cung này tương đương với 10 điện và tên gọi của các vị chủ quản các cung cũng gần tương tự với 10 vị Minh Vương (xin xem thêm chi tiết ở phần Minh VươngDiêm Ma Thập Điện). Trong Hiện Quả Tùy Lục () quyển 2 có câu: “Ngô tinh phi tà, tiền tại Minh Phủ kiến nhất kỳ sự, cấp dục vãng bỉ khám nghiệm nhĩ (, tôi chẳng nói bậy đâu, trước kia ở dưới Minh Phủ có thấy một việc kỳ lạ, muốn mau đến ông ấy khám nghiệm thử đúng không).” Hay Trong Thiền Lâm Tăng Bảo Truyện () quyển 8, truyện Nam An Nham Nghiêm Tôn Giả () lại có đoạn: “Hữu tăng tự Huệ Châu lai, viết: 'Hà Nguyên hữu cự chu trước sa, vạn ngưu hoán bất khả động, nguyện đắc dĩ tải chuyên, kiến tháp vu nam hải, vi Chúng Sanh Phước Điền.' Công viết: 'Thử Âm Phủ chi vật' (, có vị tăng từ Huệ Châu đến bảo rằng: 'Tại Hà Nguyên có một chiếc thuyền lớn bị mắc cát, vạn con trâu kéo cũng không nhúc nhích, xin ngài đến chở ngói gạch, xây tháp nơi Nam Hải để làm ruộng phước cho Chúng Sanh.' Ông [Nham Nghiêm Tôn Giả] nói rằng: 'Đó là đồ của Âm Phủ').”