Minh Cực Sở Tuấn
Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển
Định nghĩa thuật ngữ
Minki Soshun, 1262-1336: vị tăng của Lâm Tế Tông Trung Quốc, vị tổ đời thứ 24 của Kiến Nhân Tự (建仁寺, Kennin-ji), vị tổ đời thứ 23 của Kiến Trường Tự (建長寺, Kenchō-ji), vị tổ đời thứ 13 của Nam Thiền Tự (南禪寺, Nanzen-ji), Tổ của Phái Minh Cực (明極派), húy Sở Tuấn (楚俊), đạo hiệu Minh Cực (明極), Thụy Hiệu Phật Nhật Diệm Huệ Thiền Sư (佛日燄慧禪師); xuất thân Phủ Khánh Nguyên (慶元府), Minh Châu (明州, Tỉnh Triết Giang), họ Hoàng (黃). Năm lên 12, ông theo xuất gia với Trúc Song (竹窻) ở Phủ Khánh Nguyên. Sau đó, ông đến tham Thiền với Hoành Xuyên Như Củng (横川如珙) ở Dục Vương Sơn (育王山) và trình bày chỗ sở ngộ của mình cho vị này. Tiếp theo, ông lại theo làm môn hạ của Hổ Nham Tịnh Phục (虎巖淨伏) ở Linh Ẩn Tự (靈隱寺), quên ăn uống mà chỉ chuyên tham yếu chỉ Thiền, nên cuối cùng thì được nối dòng pháp của vị này. Sau ông rời khỏi nơi đây mà đến Thiên Đồng (天童), theo hầu Chỉ Hoằng Đạo Giám (止弘道鑑). Về sau, ông cũng đã từng đến sống ở hai chùa Thoại Nham (瑞巖) và Phổ Tuệ (普慧), và chủ yếu là hoạt động giáo hóa ở Song Lâm Tự (雙林寺) thuộc vùng Vụ Châu (婺州, Tỉnh Triết Giang). Vào năm 1329, thể theo lời cung thỉnh của Đại Hữu Minh Tông (大友明宗), ông cùng với nhóm Trúc Tiên Phạn Tiên (竺仙梵僊) sang Nhật. Ông được Tướng Quân Bắc Điều Cao Thời (北條高時, Hōjō Takatoki) thỉnh đến trú tại Kiến Trường Tự vùng Liêm Thương (鎌倉, Kamakura). Sau khi chính quyền Mạc Phủ bị diệt vong, ông được Hậu Đề Hồ Thiên Hoàng (後醍醐天皇, Godaigo Tennō) quy y theo, và ông chuyển đến sống qua các chùa như Nam Thiền Tự, Kiến Nhân Tự vùng Sơn Thành (山城, Yamashiro). Sau ông khai sáng ra Quảng Nghiêm Tự (廣嚴寺, Kōgan-ji) ở vùng Nhiếp Tân (攝津, Settsu, thuộc Hyōgo-ken [兵庫縣]). Về sau, ông trở về sống An Dưỡng tuổi già ở Thiếu Lâm Viện (少林院) thuộc Nam Thiền Tự. Đến ngày 27 tháng 9 năm thứ 3 niên hiệu Kiến Võ (建武), ông Thị Tịch ở tại Phương Trượng của Kiến Nhân Tự, hưởng thọ 75 tuổi đời và 63 Pháp Lạp. Trước tác của ông có Minh Cực Sở Tuấn Hòa Thượng Ngữ Lục (明極楚俊和尚語錄), Thương Hải Dư Ba (滄海余波), Mộng Song Minh Cực Xướng Hòa Thiên (夢窻明極唱和篇), v.v. Đàm Ngạc (曇噩) soạn bài Minh Cực Tuấn Đại Hòa Thượng Tháp Minh (明極俊大和尚塔銘).