Mậu Kỷ

《戊己》 wù jǐ

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

: tên gọi 2 can trong 10 can (Giáp [], Ất [], Bính [], Đinh [], Mậu [], Kỷ [], Canh [], Tân [], Nhâm [], Quý []). Mậu () ở vị trí thứ 5, Kỷ () ở vị trí thứ 6; trong Ngũ Hành hai can này thuộc về Thổ; về phương hướng chúng ở vị trí trung ương; về thời khắc thì trước giờ ngọ 4 tiếng, hay trước sau giờ ngọ hai tiếng. Cho nên, Mậu Kỷ là tên gọi khác của Thổ. Như trong bài Tư Vô Tà Trai Tán () của Tô Thức (, 1036-1101) nhà Tống có câu: “Bồi dĩ Mậu Kỷ, canh dĩ Xích Xà (, bồi thêm đất tốt, canh nơi rắn đỏ).” Theo Tín Ngưỡng của Đạo Mẫu, Trung Ương Mậu Kỷ Thổ Đức Hoàng Hổ Thần Quan () còn là tên gọi của một trong 5 vị quan Ngũ Hổ. Trong Tế Công Thiền Sư Độ Thế Diệu Pháp Kinh () của Đạo Giáo có câu: “Đông phương Giáp Ất Mộc, nhân chi dức dã; Nam phương Bính Đinh Hỏa, lễ chi đức dã; trung ương Mậu Kỷ Thổ, tín chi đức dã; Tây phương Canh Tân Kim, nghĩa chi đức dã; Bắc phương Nhâm Quý Thủy, trí chi đức dã (西, phương Đông là Giáp Ất thuộc về Mộc, là đức của lòng nhân; phương Nam là Bính Đinh thuộc về Hỏa, là đức của lễ; ở trung ương là Mậu Kỷ thuộc về Thổ, là đức của niềm tin; phương Tây là Canh Tân thuộc về Kim, là đức của nghĩa; phương Bắc là Nhâm Quý thuộc về Thủy, là đức của trí).”