Mạnh Đông

《孟冬》 mèng dōng

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

: chỉ cho tháng đầu tiên của mùa Đông, tức tháng 10 Âm Lịch. Một số thi từ liên quan đến từ Mạnh Đông này như trong bài Bộ Xuất Hạ Môn Hành (), phần Đông Thập Nguyệt () của Tào Tháo (, 155-220) có câu: “Mạnh Đông thập nguyệt, Bắc phong bồi hồi (, đầu Đông tháng Mười, gió Bắc bồi hồi).” Trong bài thơ Thư Dị () của Nguyên Chẩn (, 779-831) nhà Đường có câu: “Mạnh Đông sơ hàn nguyệt, chử trạch bồ thượng thanh (, Mạnh Đông tháng mới lạnh, cỏ bên đầm còn xanh).” Hay trong bài Minh Binh Bộ Thượng Thư Tiết Hoàn Viên Công Mộ Chí Minh () của Khổng Trinh Vận (, 1574-1644) nhà Minh lại có đoạn: “Chí Mạnh Đông nguyệt, hốt Tây Nam hữu cự tinh trụy địa, nhi công khạp nhiên thệ hỉ (西, đến tháng 10, chợt phía Tây Nam có ngôi sao lớn rơi xuống đất, rồi ông [Viên Khả Lập] đột nhiên qua đời vậy).” Trong Phật Tổ Tông Phái Thế Phổ (, Tục Tạng Kinh Vol. 86, No. 1602) cũng có đoạn: “Uyên Hồ Diệu Dụng, Hải Diêm Trịnh Thị Tử, sanh vu Vạn Lịch Đinh Hợi niên, Sùng Trinh Nhâm Ngọ Mạnh Đông thập nhất nhật thư kệ nhi thệ, tháp Hưng Thiện Phổ Minh (, Uyên Hồ Diệu Dụng, con nhà họ Trịnh ở Hải Diêm, sanh vào năm Đinh Hợi [1587] niên hiệu Vạn Lịch; vào ngày 11 tháng 10 năm Nhâm Ngọ [1642] niên hiệu Sùng Trinh, ông viết kệ rồi qua đời; tháp tên Phổ Minh ở Chùa Hưng Thiện).” Hay trong Hoằng Giới Pháp Nghi (, Tục Tạng Kinh Vol. 60, No. 1126) quyển 1 lại có câu: “Thiên Khải Quý Hợi Mạnh Đông sóc đán Tam Phong Bồ Tát Giới Đệ Tử Pháp Tạng thư vu Bắc Thiền Tự Cấm Oa Đường trung (, vào sáng mồng một tháng 10 năm Quý Hợi [1623] niên hiệu Thiên Khải, Đệ Tử thọ Bồ Tát Giới ở Tam Phong tên Pháp Tạng viết trong Cấm Oa Đường của Bắc Thiền Tự).”