Ly Lục Đường Tập

《離六堂集》 lí liù táng jí

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

: bên cạnh các tác phẩm như Hùng Lục Đường Nhị Tập (), Triều Hành Cận Thảo (), Ly Lục Đường Cận Cảo (稿), Hải Ngoại Kỷ Sự (), bộ này cũng là Thi Văn Tập do Thiền tăng Đại Sán () trước tác, được thâu lục vào trong quyển thứ 99 của Thiền Tông Toàn Thư (), quyển thứ 7 của Thiền Môn Dật Thư (); nguyên san bản của Hoài Cổ Lâu () trong khoảng thời gian Khang Hy (, 1661-1722). Vốn là pháp từ của Giác Lãng Đạo Thạnh (, 1592-1659), vị tăng của Tào Động Tông Trung Quốc, sống dưới thời nhà Thanh, Đại Sán kế thừa Tông Phong của Thầy và làm cho phát triển. Tư tưởng Thiền Học của Đạo Thạnh khá đặc dị, từng đưa ra các quan niệm lấy Tào Động Tông chỉnh hợp học thuyết Thiền Tông Ngũ Gia () với Tam Giáo Nho, Đạo, Thích; từ đó đề xuất lý luận gọi là “tôn hỏa vi tông (, tôn sùng lửa làm Tông Chỉ).” Hơn nữa, tư tưởng này còn liên quan đến chủ trương Ngũ Vị Quân Thần Quyết () của Tào Sơn Bổn Tịch (, 840-901) cũng như quan niệm lấy Ngũ Vị phối hợp với 5 quẻ trong 64 quẻ của Chu Dịch (). Việc Đại Sán lấy tên Ly Lục () đặt tên cho nhà ông ở, cho danh tập, cũng đều có liên quan đến tư tưởng nói trên. Có nghĩa là Tào Động Tông lấy phẩm vị Kiêm Trung Đáo () trong Ngũ Vị để phối hợp với quẻ Trùng Ly () của 64 quẻ dịch. Theo giải thích của Đại Sán, Ly Lục có nghĩa là “dĩ nhất quy ngũ (, lấy một quy về năm)”; lấy 6 quy về 5 tức là đạt đến Kiêm Trung Đáo của Ngũ Vị, là cảnh giới sự lý viên dung vô ngại. Ly Lục nghĩa là lìa nước được lửa, và đó cũng là “lấy lửa làm tông khí, tạo nên pháp mạch của Tào Động”. Được hình thành với 12 tập, trong phần đầu có khá nhiều bài Tựa của các danh nhân đương thời như Tằng Xán (), Hùng Nhất Tiêu (), Khuất Đại Quân (), Cao Tằng Vân (), Từ Hoàn (), v.v. Trong 12 quyển ấy, có 1 quyển chuyên về Phú, thơ 1 quyển. Trước sách có đồ hình 32 bức, mỗi bức đều có đề tán của các danh nhân. Trong sách có thuật lại những phong tục, tập quán xã hội Lĩnh Nam (), tình hình xã hội Việt Nam lúc bấy giờ, v.v.