Lục Vị

《六味》 liù wèi

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

: tức 6 loại vị khác nhau; gồm đắng, chua, ngọt, cay, mặn, lạt, được tìm thấy trong Bắc Bản Đại Bát Niết Bàn Kinh (, Taishō Vol. 12, No. 374) quyển 1, A Tỳ Đạt Ma Câu Xá Luận (, Taishō Vol. 29, No. 1558) quyển 1, v.v. Theo bản Đại Minh Tam Tạng Pháp Số () quyển 28, giải thích rằng: (1) Khổ (Sanskrit: tikta, , đắng), tánh của nó lạnh, có thể hóa giải cái nóng trong phủ tạng; (2) Thố (Sanskrit: amla, , chua như giấm), còn gọi là toan (), tạc (), tánh của nó mát, có thể giải vị của các chất độc; (3) Cam (Sanskrit: madhura, , ngọt), còn gọi là điềm (), tánh của nó hòa, có thể điều hòa lá lách, ruột; (4) Tân (Sanskrit: kaṭuka, , cay), tánh của nó nóng, vì vậy có thể hóa giải cái lạnh trong phủ tạng; (5) Hàm (Sanskrit: lavaṇa, , mặn), tánh của nó thấm, nên có thể giúp thấm sâu vào da thịt; (6) Đạm (Sanskrit: kaśāya, , lạt), là thể để nhận các vị. Bắc Bản Đại Bát Niết Bàn Kinh quyển 4 lấy 6 vị này Thí Dụ cho pháp nghĩa của kinh; Khổ là vị chua, Vô Thường là vị mặn, Vô Ngã là vị đắng, Lạc là vị ngọt, Ngã là vị cay và Thường là vị lạt. Trong Kinh Luật Giới Tướng Bố Tát Quỹ Nghi (, Tục Tạng Kinh Vol. 60, No. 1136), phần Thọ Thực Ngũ Quán Pháp (), có đoạn: “Tam Đức Lục Vị, cúng Phật cập tăng, Pháp Giới hữu tình, phổ đồng cúng dường (, Ba Đức Sáu Vị, cúng Phật và tăng, Pháp Giới hữu tình, khắp cùng cúng dường).” Hay trong Tử Bá Tôn Giả Toàn Tập (, Tục Tạng Kinh Vol. 73, No. 1452) quyển 1, phần Pháp Ngữ (), lại có đoạn: “Tam Đức bất giải, Lục Vị bất biện, kiêm tự kỷ thân khẩu ý Tam Nghiệp Bất Tịnh, tắc biện thực chi sở, bất danh Hương Tích Trù, vị chi Uế Tích Trù hĩ (, Ba Đức không hiểu, Sáu Vị chẳng rõ, cọng thêm Ba Nghiệp thân miệng ý của bản thân cũng không trong sạch, thì nơi chuẩn bị thức ăn, không gọi là Nhà Bếp Hương Tích, mà gọi là Nhà Bếp Ô Uế vậy).”