Lục Chủng Lực
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Sáu thứ sức mạnh thông thường ở Thế Gian được nói trong kinh Tăng nhất a hàm quyển 31 như sau:
1. Trẻ con lấy tiếng khóc làm sức mạnh: Đứa trẻ muốn đòi cái gì không nói được, nên chỉ dùng tiếng khóc.
2. Người đàn bà dùng sự giận hờn làm sức mạnh: Đàn bà vốn nhu mì, nếu cần tranh cãi, tất phải dùng sự giận hờn.
3. Vị Sa Môn lấy Nhẫn Nhục làm sức mạnh: Sa Môn thường lấy sự Nhẫn Nhục làm sức mạnh, có thể chống đỡ nghịch cảnh mà không sân hận.
4. Quốc Vương lấy Kiêu Mạn làm sức mạnh: Uy thế của Quốc Vương được tôn trọng, có năng lực làm cho nhân dân qui phục.
5. Vị La hán lấy sự chuyên tinh làm sức mạnh: La hán tu hành dũng mãnh Tinh Tiến, tâm không buông thả.
6. Chư Phật lấy từ bi làm sức mạnh: Chư Phật vận dụng tâm từ bi làm Lợi Ích cho hết thảy Chúng Sinh, không gì làm cho các Ngài trở ngại.
1. Trẻ con lấy tiếng khóc làm sức mạnh: Đứa trẻ muốn đòi cái gì không nói được, nên chỉ dùng tiếng khóc.
2. Người đàn bà dùng sự giận hờn làm sức mạnh: Đàn bà vốn nhu mì, nếu cần tranh cãi, tất phải dùng sự giận hờn.
3. Vị Sa Môn lấy Nhẫn Nhục làm sức mạnh: Sa Môn thường lấy sự Nhẫn Nhục làm sức mạnh, có thể chống đỡ nghịch cảnh mà không sân hận.
4. Quốc Vương lấy Kiêu Mạn làm sức mạnh: Uy thế của Quốc Vương được tôn trọng, có năng lực làm cho nhân dân qui phục.
5. Vị La hán lấy sự chuyên tinh làm sức mạnh: La hán tu hành dũng mãnh Tinh Tiến, tâm không buông thả.
6. Chư Phật lấy từ bi làm sức mạnh: Chư Phật vận dụng tâm từ bi làm Lợi Ích cho hết thảy Chúng Sinh, không gì làm cho các Ngài trở ngại.