Luật Tông

《律宗》 lǜ zōng

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

Ris-shū: học phái chuyên nhấn mạnh về sự tu tập và nghiên cứu giới luật, do Đạo Tuyên (, 596-667) nhà Đường thành lập nên ở Trung Hoa, lấy việc thọ trì Tứ Phần Luật () cũng như Tam Tụ Tịnh Giới () của Bồ Tát làm yếu nhân để Thành Phật. Giới luật do đức Phật chế ra được thâu tập thành Luật Tạng; nhưng khi giáo đoàn phân liệt thì giới luật được truyền thừa khác nhau theo 20 bộ phái. Tại Trung Hoa, 4 bộ luật gồm Thập Tụng Luật (), Tứ Phần Luật (), Tăng Kỳ Luật ()Ngũ Phần Luật () được lưu truyền. Trong đó, chỉ có Tứ Phần Luật là được phổ biến nhất, từ đó phân phái Thành Tướng Bộ Tông () của Pháp Lệ (, 560-635), Nam Sơn Tông () của Đạo Tuyên (, 596-667), Đông Tháp Tông () của Hoài Tố (, 624-697). Học phái này cũng được truyền sang Nhật, và trở thành một trong 6 Tông Phái lớn vùng Nam Đô. Vào năm 754 (năm thứ 6 niên hiệu Thiên Bình Thắng Bảo []), Giám Chơn (, Ganjin)—cao đệ của Hằng Cảnh (, Kōkei), Đệ Tử của Đạo Tuyên, đã từ Trung Quốc sang và truyền thừa tông này vào Nhật. Sau đó, ông thành lập 3 Giới Đàn tại Đông Tự (, Tō-ji), Dược Sư Tự (, Yakushi-ji), Quan Thế Âm Tự (, Kanzeon-ji) và khai sáng Đường Chiêu Đề Tự (, Tōshōdai-ji) làm Đạo Tràng căn bản để nghiên cứu về giới luật cũng như làm ngôi chùa trung tâm chính cho Tông Phái này. Về sau, Tông Phái này trãi qua một thời suy vong, nhưng rồi được phục hưng lại nhờ nhóm Thật Phạm (, Jitsuhan), Giác Thạnh (, Kakujō)Duệ Tôn (, Eison). Hơn nữa, nhóm Tuấn Nhưng (, Shunjō), Đàm Chiếu (, Donshō) sang nhà Đường cầu pháp, rồi truyền giới luật vào Nhật và xác lập nên Bắc Kinh Luật () ở trung tâm Tuyền Dũng Tự (, Senjū-ji), đối lập với Nam Kinh Luật () của Giác Thạnh. Hiện tại, bên cạnh ngôi chùa Tổng Bản Sơn của Luật TôngĐường Chiêu Đề Tự, còn có sự hiện hữu của giáo đoàn Chơn Ngôn Luật Tông (), lấy Tây Đại Tự (西, Saidai-ji) làm Tổng Bản Sơn.